Xuất khẩu tôm hùm tăng 44,1% và những nút thắt cần tháo gỡ

Xuất khẩu tôm hùm tăng 44,1% và những nút thắt cần tháo gỡ

Thứ tư, 12/8/2026, 07:56 (GMT+7)
logo Sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm hùm của nước ta tăng 44,1% so với cùng kỳ, tuy nhiên nghề nuôi tôm hùm vẫn đối mặt với nhiều nút thắt cần tháo gỡ.

Tôm hùm từ lâu đã là một trong những đối tượng có giá trị cao của nghề nuôi biển miền Trung. Vùng nuôi hiện trải dài từ Quảng Bình đến khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng sản xuất tập trung chủ yếu tại Khánh Hòa và Đắk Lắk, trước đây là Phú Yên. Hai địa phương này chiếm trên 95% số lồng và sản lượng tôm hùm của cả nước.

Sau thời gian giảm sút do ảnh hưởng của dịch Covid-19, sản xuất tôm hùm phục hồi khá nhanh. Năm 2025, cả nước có 303.876 ô lồng nuôi, sản lượng tôm hùm thương phẩm ước đạt 14.537 tấn. Kim ngạch xuất khẩu đạt 858 triệu USD, mức cao nhất từ trước đến nay. 

thu-hoach-tom-hum-1_1786334499.jpg
Đến hết 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có khoảng 290.136 ô lồng nuôi tôm hùm, tương ứng khoảng 6,5 triệu m³ thể tích nuôi

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đà tăng tiếp tục trong nửa đầu năm nay. Tính đến hết 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có khoảng 290.136 ô lồng, tương ứng khoảng 6,5 triệu m³ thể tích nuôi. Sản lượng thương phẩm ước đạt 11.790 tấn, bằng 81,1% sản lượng của cả năm 2025.

Về xuất khẩu, trong 6 tháng đầu năm, xuất khẩu tôm hùm của Việt Nam đạt 584,6 triệu USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ và bằng 68,3% kim ngạch của cả năm trước. Riêng xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 576 triệu USD, chiếm 98,53% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Thiếu giống và áp lực môi trường

Cục Thủy sản và Kiểm ngư cũng cho biết, mỗi năm, nghề nuôi tôm hùm cần khoảng 100 - 120 triệu con giống. Trong khi đó, nguồn giống khai thác tự nhiên trong nước chỉ khoảng 8 - 12 triệu con, đáp ứng khoảng 10% nhu cầu. Phần còn lại lâu nay phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ Indonesia và một số nước trong khu vực.

Nguồn nhập khẩu chính ngạch lại giảm mạnh. Lượng giống được kiểm dịch từ 7,72 triệu con năm 2023 giảm xuống 724 nghìn con năm 2024 và chỉ còn 355 nghìn con năm 2025. Sáu tháng đầu năm 2026 chưa có lô tôm hùm giống nhập khẩu chính ngạch nào phục vụ nuôi thương phẩm.

tom-hum-giong_1786336342.jpg
Phần lớn con giống phục vụ nghề nuôi tôm hùm trong nước phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ Indonesia và một số nước trong khu vực

Khan hiếm nguồn cung đẩy giá giống tăng thêm khoảng 10.000 - 20.000 đồng/con so với năm trước. Tại các địa phương có nghề nuôi tôm hùm, giá con giống hiện dao động từ 45.000 - 70.000 đồng/con tùy loài, kích cỡ và thời điểm.

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, khó khăn không chỉ nằm ở nguồn cung con giống. Tình trạng vận chuyển, ương dưỡng và kinh doanh giống không rõ nguồn gốc vẫn xuất hiện, làm tăng nguy cơ mang theo mầm bệnh vào vùng nuôi và gây khó cho việc truy xuất nguồn gốc sau này. Thời gian qua, cơ quan chức năng tại Khánh Hòa và Đắk Lắk đã phát hiện, xử lý một số trường hợp không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ, đồng thời buộc tiêu hủy một số lô giống.

Trong số 61 cơ sở ương dưỡng tôm hùm giống đã được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện, Khánh Hòa có 54 cơ sở, Đắk Lắk có 7 cơ sở. Đây cũng là hai địa phương giữ vai trò chính trong chuỗi sản xuất tôm hùm hiện nay.

Giải bài toán con giống bằng sản xuất nhân tạo vẫn còn đối mặt nhiều thách thức. Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, nay là Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, đã nuôi vỗ được đàn bố mẹ, cho sinh sản nhân tạo, ấp nở và ương nuôi ấu trùng tôm hùm bông. Một số ấu trùng đã phát triển tới giai đoạn phyllosoma cuối, nhưng chưa chuyển thành công sang giai đoạn puerulus. Quy trình sản xuất giống nhân tạo vì vậy chưa thể hoàn thiện để đưa vào sản xuất thương mại.

Trong lúc nguồn cung con giống còn thiếu ổn định, mật độ nuôi tại một số vùng lại đang tạo thêm áp lực lên môi trường. Phần lớn người dân vẫn sử dụng lồng bè truyền thống và thức ăn tươi sống. Lồng HDPE, nuôi biển hở, nuôi trên bờ hay thức ăn công nghiệp mới được áp dụng ở phạm vi hạn chế.

Thức ăn dư thừa cùng chất thải hữu cơ tích tụ dưới vùng nuôi làm chất lượng nước suy giảm và tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển. Tỷ lệ hao hụt, chết do bệnh trong cả quá trình nuôi ước tính khoảng 30 - 35% tổng đàn. Bệnh sữa, đỏ thân, đen mang vẫn xuất hiện rải rác tại một số vùng.

thu-hoach-tom-hum_1786336342.jpg
Sản lượng tôm hùm thương phẩm 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 11.790 tấn, bằng 81,1% sản lượng của cả năm 2025

Kết quả quan trắc 6 tháng đầu năm tại Khánh Hòa và Đắk Lắk ghi nhận phần lớn các thông số môi trường nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên, tại một số thời điểm, nhiệt độ, hàm lượng oxy hòa tan, amoni, photphat, COD và mật độ vi khuẩn Vibrio spp. vẫn vượt ngưỡng.

Ở vịnh Xuân Đài của tỉnh Đắk Lắk và vùng nuôi Xuân Tự của tỉnh Khánh Hòa, hàm lượng oxy hòa tan có thời điểm xuống thấp, trong khi amoni, COD và Vibrio spp. có xu hướng tăng trong giai đoạn nắng nóng. Chỉ số chất lượng nước AWQI tại các vùng nuôi dao động từ 37 đến 100, từ mức kém đến rất tốt; riêng một số khu vực như Xuân Tự và Phước Lý có thời điểm chỉ ở mức kém hoặc trung bình.

Những biến động này là lời cảnh báo trực tiếp đối với cách phát triển dựa nhiều vào tăng số lượng lồng. Mỗi thủy vực có một giới hạn chịu tải. Khi mật độ nuôi vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường, rủi ro dịch bệnh và thiệt hại sản xuất sẽ gia tăng.

Bài toán quản lý vì vậy không chỉ là bao nhiêu lồng được đặt trên biển, mà còn là đặt ở đâu, mật độ thế nào và môi trường tại khu vực đó còn khả năng chịu tải hay không.

Đa dạng thị trường, giảm rủi ro đầu ra

Nếu nguồn giống là điểm nghẽn ở đầu vào, thị trường lại là rủi ro lớn ở đầu ra. Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, từ cuối năm 2023, Trung Quốc áp dụng các quy định về quản lý động vật hoang dã, trong đó yêu cầu tôm hùm bông nhập khẩu phải có nguồn gốc hợp pháp F2 và bảo đảm khả năng truy xuất. Yêu cầu này tác động trực tiếp tới Việt Nam khi công nghệ sản xuất giống nhân tạo tôm hùm bông chưa hoàn thiện.

thu-hoach-tom-hum-2_1786334499.jpg
Ngành nuôi tôm hùm thương phẩm vẫn còn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc

Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các đơn vị liên quan đã làm việc với cơ quan có thẩm quyền của Indonesia và Trung Quốc để tháo gỡ khó khăn về nguồn giống, kiểm dịch và xuất khẩu. Việt Nam cũng phối hợp với Tổng cục Hải quan Trung Quốc trong kiểm tra hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm, kiểm dịch và một số cơ sở nuôi phục vụ xuất khẩu.

Dù vậy, việc Trung Quốc chiếm tới 98,53% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm hùm của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy mức độ phụ thuộc rất lớn vào thị trường này. Khi chính sách nhập khẩu, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc nhu cầu tiêu dùng tại thị trường này thay đổi, tác động có thể nhanh chóng lan đến các vùng nuôi.

Cơ cấu sản phẩm cũng chưa tạo được nhiều dư địa để phân tán rủi ro. Tôm hùm xuất khẩu hiện chủ yếu dưới dạng sống, tỷ lệ sản phẩm chế biến và sản phẩm giá trị gia tăng còn thấp. Chi phí vận chuyển, bảo quản và logistics cao tiếp tục ảnh hưởng đến sức cạnh tranh khi muốn mở rộng sang những thị trường xa hơn.

Trong bối cảnh đó, hướng đi được ngành Thủy sản xác định là chuyển dần từ tăng quy mô sang nâng cao chất lượng toàn chuỗi. Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho rằng, việc sắp xếp vùng nuôi theo quy hoạch và sức chịu tải của môi trường cần đi cùng với giao, cho thuê khu vực biển, đăng ký nuôi lồng bè và cấp mã số cơ sở nuôi. Có mã số, có nhật ký nuôi và hồ sơ nguồn giống là điều kiện để sản phẩm đi được vào hệ thống truy xuất.

Đồng thời, ở khâu sản xuất, yêu cầu đặt ra là kiểm soát chặt nguồn giống, từng bước thay lồng bè truyền thống bằng vật liệu và công nghệ có khả năng chống chịu tốt hơn, giảm dần lượng thức ăn tươi sống, tăng cường quan trắc và cảnh báo sớm môi trường, dịch bệnh. Công nghệ số có thể được sử dụng để quản lý mã số cơ sở nuôi, nhật ký điện tử, dữ liệu môi trường và quá trình truy xuất sản phẩm.

long-be-tom-hum_1786336343.jpg
 Thay thế lồng bè truyền thống bằng vật liệu và công nghệ có khả năng chống chịu tốt hơn giúp giảm rủi ro tại các vùng nuôi tôm hùm

Cùng với duy trì thị trường Trung Quốc, việc mở rộng xuất khẩu chính ngạch sang các thị trường khác cần đi kèm với phát triển sản phẩm chế biến, công nghệ bảo quản và vận chuyển. Bên cạnh đó, tận dụng phụ phẩm từ quá trình chế biến cũng nên được chú trọng để gia tăng giá trị và giảm chất thải, thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm tôm sống như hiện nay.

Với Khánh Hòa và Đắk Lắk, hai địa phương có quy mô nuôi tôm hùm lớn nhất của cả nước, việc chuyển đổi trước hết cần diễn ra ngay tại các vùng nuôi hiện hữu. Sắp xếp lại lồng bè, quản lý theo sức tải, kiểm soát nguồn giống và xây dựng chuỗi giá trị có khả năng truy xuất sẽ quyết định chất lượng tăng trưởng của ngành hàng tôm hùm trong những năm tới.

Xuất khẩu tăng 44,1% trong nửa đầu năm 2026 là tín hiệu tích cực, nhưng không thể che lấp những vấn đề đang tích tụ trong chuỗi sản xuất. Với tôm hùm, giới hạn phát triển trong giai đoạn tới có lẽ không còn nằm ở số lượng lồng có thể tăng thêm, mà ở khả năng bảo đảm nguồn giống hợp pháp, giữ được môi trường vùng nuôi trong sức chịu tải và truy xuất được sản phẩm từ đầu vào đến phân phối và tiêu thụ trên thị trường.

Trung Nhân