Kỳ 3: Kiến tạo tương lai từ biển trong kỷ nguyên vươn mình

Kỳ 3: Kiến tạo tương lai từ biển trong kỷ nguyên vươn mình

Thứ tư, 12/8/2026, 07:55 (GMT+7)
logo Nếu Kỳ I phân tích sự đổi mới tư duy về phát triển biển, Kỳ II phản ánh các chương trình hành động đưa Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vào cuộc sống, thì trong Kỳ III, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường tập trung làm rõ những động lực phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại.
anh-1_1786352355.png
Khoa học, công nghệ và kinh tế xanh đang mở ra những động lực mới để Việt Nam phát triển bền vững từ biển. (Ảnh có sử dụng AI)

Biển - không gian phát triển chiến lược

Trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc, hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản, vận tải hàng hải, nghiên cứu khoa học, quan trắc môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh được triển khai thường xuyên. Cùng với các ngành kinh tế truyền thống, nhiều mô hình sản xuất, dịch vụ và dự án kinh tế biển mới đang hình thành, đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển và nâng cao năng lực quản trị biển quốc gia.

Nhận thức về biển đang chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên sang cách tiếp cận tổng hợp, coi biển là không gian phát triển gắn kết kinh tế, khoa học, công nghệ, môi trường, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết 20) xác định mục tiêu xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, quốc gia phát triển có thu nhập cao, thịnh vượng, an toàn và bền vững. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để đổi mới thể chế, mô hình tăng trưởng và phương thức quản trị biển trong giai đoạn mới.

Mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh xuất phát từ yêu cầu mở rộng không gian phát triển của đất nước. Trong bối cảnh tài nguyên trên đất liền chịu nhiều sức ép, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và cạnh tranh quốc tế gia tăng, việc khai thác hợp lý, hiệu quả các giá trị của biển trở thành yêu cầu cấp thiết để tạo dư địa phát triển lâu dài.

Điều đáng chú ý là Nghị quyết 20 không đặt mục tiêu phát triển biển theo cách tiếp cận truyền thống, lấy khai thác tài nguyên làm trung tâm. Thay vào đó, Nghị quyết hướng tới xây dựng nền kinh tế biển hiện đại dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và sử dụng bền vững tài nguyên. Đây là bước chuyển có ý nghĩa chiến lược, bởi trong thế kỷ XXI, sức mạnh của một quốc gia biển không còn được quyết định chủ yếu bởi lượng tài nguyên sở hữu, mà bởi năng lực tạo ra tri thức, làm chủ công nghệ và tổ chức phát triển hiệu quả.

Nghị quyết 20 dành sự quan tâm đặc biệt cho việc phát triển khoa học, công nghệ biển, đổi mới sáng tạo, điều tra cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và mở rộng hợp tác quốc tế. Đây không chỉ là những nhiệm vụ chuyên môn của từng ngành, mà là những trụ cột để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực biển.

7_13442529072026_1786351289.jpg
Ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương khẳng định: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Ảnh: Báo QĐND

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, do Bộ Chính trị tổ chức sáng 29/7/2026, ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, nhấn mạnh Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh nhằm tạo bước chuyển mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn chiến lược, toàn diện; đồng thời khẳng định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính. Từ đó có thể thấy, lợi thế tự nhiên chỉ thực sự chuyển hóa thành sức mạnh phát triển khi được dẫn dắt bằng tri thức, công nghệ và năng lực quản trị hiện đại.

Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, điều đó đồng nghĩa với việc mỗi chương trình điều tra cơ bản, mỗi bản quy hoạch, mỗi cơ sở dữ liệu hay mỗi mô hình quản lý tài nguyên đều không chỉ phục vụ yêu cầu trước mắt, mà còn góp phần xây dựng nền tảng cho tương lai. Những dữ liệu được tích lũy hôm nay sẽ là cơ sở để dự báo xu thế biến động của biển; những nghiên cứu khoa học hôm nay sẽ tạo tiền đề cho các ngành kinh tế biển mới; còn những chính sách được ban hành hôm nay sẽ định hình cách Việt Nam khai thác, bảo vệ và phát huy giá trị biển trong nhiều thập niên tới.

Định hướng của Việt Nam là chuyển từ phát triển thành quốc gia biển mạnh chủ yếu dựa vào nguồn lợi tự nhiên sang phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời gắn khai thác, sử dụng biển với bảo vệ tài nguyên, môi trường và lợi ích lâu dài của quốc gia.

Trên cơ sở tầm nhìn đó, Nghị quyết 20 đặt ra yêu cầu đồng bộ hóa chính sách, chương trình đầu tư và nhiệm vụ khoa học, công nghệ nhằm phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại và bền vững. Việc tổ chức thực hiện phải gắn với kết quả cụ thể, bảo đảm sử dụng hiệu quả tài nguyên, kiểm soát tác động môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

anh-2_1786352628.png
Khoa học, công nghệ và kinh tế biển xanh tạo động lực xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. (Ảnh có sử dụng AI)

Khoa học, công nghệ và các động lực phát triển kinh tế biển mới

Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia biển trên thế giới cho thấy, khi khoa học và công nghệ trở thành động lực của kinh tế biển, giá trị tạo ra từ biển không còn giới hạn ở khai thác hải sản hay vận tải hàng hải. Biển trở thành không gian của công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, dịch vụ logistics, tài chính biển, dữ liệu đại dương và nhiều ngành kinh tế có hàm lượng tri thức cao.

Đó cũng là định hướng chiến lược mà Nghị quyết 20 đề ra. Trong tầm nhìn phát triển mới, biển không chỉ là nơi khai thác nguồn lợi tự nhiên, mà phải trở thành không gian của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế; nơi hình thành những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, tạo sức cạnh tranh mới cho đất nước.

Nhìn lại chặng đường phát triển, lợi thế lớn nhất của Việt Nam luôn là vị trí địa chiến lược và hệ thống tài nguyên biển phong phú. Nhưng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, lợi thế tự nhiên sẽ không còn đủ để tạo nên ưu thế cạnh tranh nếu thiếu tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đó là lý do Nghị quyết 20 không chỉ đặt ra yêu cầu khai thác hiệu quả tài nguyên biển mà còn nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển mạnh khoa học, công nghệ biển; đẩy nhanh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; nâng cao năng lực điều tra cơ bản, dự báo và quan trắc; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về biển; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và mở rộng hợp tác quốc tế. Những nhiệm vụ ấy không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật mà chính là những động lực mới để tái định hình nền kinh tế biển Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

Tương lai của kinh tế biển sẽ không chỉ được quyết định bởi số lượng tàu thuyền hay sản lượng khai thác, mà còn phụ thuộc vào khả năng làm chủ công nghệ. Khi dữ liệu điều tra cơ bản được cập nhật đầy đủ, việc quy hoạch và khai thác không gian biển sẽ chính xác hơn. Khi hệ thống quan trắc hiện đại giúp dự báo sớm thiên tai, ô nhiễm hay biến động môi trường, người dân và doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong sản xuất. Khi công nghệ số được ứng dụng vào quản lý tài nguyên, mỗi quyết định đầu tư hay sử dụng biển sẽ có thêm cơ sở khoa học, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả.

1_8a6ff4b86d_1786351461.png
Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Hồng Hải phát biểu tại Hội thảo “Tăng cường và thúc đẩy các công nghệ xanh nhằm phát triển bền vững kinh tế biển”, ngày 31/12/2025. Ảnh: Cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Phát biểu khai mạc Hội thảo “Tăng cường và thúc đẩy các công nghệ xanh nhằm phát triển bền vững kinh tế biển”, do Cục Biển và Hải đảo Việt Nam tổ chức ngày 31/12/2025 tại Hà Nội, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Hồng Hải đã chỉ ra yêu cầu căn bản, muốn mở rộng không gian phát triển ra biển, trước hết phải nâng cao năng lực nhận biết, giám sát và dự báo về biển.

“Nếu không có dữ liệu, không có công nghệ số... chúng ta không thể hiểu biển một cách đầy đủ”, ông Nguyễn Hồng Hải khẳng định. Theo ông Hải, thiếu AI, viễn thám, phương tiện tự hành và các công nghệ mũi nhọn, việc quản lý hiệu quả và phát triển biển bền vững sẽ khó thực hiện. 

Cách tiếp cận dựa trên dữ liệu và khoa học làm thay đổi phương thức nhận diện, phân bổ và sử dụng nguồn lực biển. Kết quả nghiên cứu hệ sinh thái có thể phục vụ phát triển công nghệ sinh học biển; dữ liệu hải dương học hỗ trợ hình thành các dịch vụ biển hiện đại; công nghệ quan trắc và mô hình hóa góp phần nâng cao chất lượng dự báo, quy hoạch và quản lý rủi ro.

Nghị quyết 20 cũng đặt trọng tâm vào việc phát triển các ngành kinh tế biển mới, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn; khuyến khích khai thác hiệu quả những giá trị mới từ biển thay vì chỉ dựa vào nguồn tài nguyên hữu hạn. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển, bởi khi thế giới đang hướng mạnh tới giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và tăng trưởng xanh, biển sẽ là không gian để hình thành những ngành kinh tế mới có hàm lượng khoa học và công nghệ cao, tạo động lực tăng trưởng dài hạn cho đất nước.

Đi cùng với khoa học và công nghệ là yếu tố con người. Không thể xây dựng một quốc gia biển mạnh nếu thiếu đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư, cán bộ quản lý và lực lượng lao động có trình độ cao, đủ năng lực làm chủ công nghệ, làm chủ không gian biển và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nghị quyết 20 xác định, phát triển nguồn nhân lực biển là một trong những nhiệm vụ chiến lược, gắn với đổi mới giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và tăng cường hợp tác quốc tế. Đây không chỉ là đầu tư cho hiện tại mà còn là đầu tư cho năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong tương lai.

image_838d20edd6_1786352955.png
Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản phát biểu tại cuộc họp ngày 9/3/2026. 
                                                                              Ảnh: Cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Tại cuộc họp “Định hướng kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo lĩnh vực biển và hải đảo giai đoạn 2026 - 2030” sáng 9/3/2026, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản đề nghị kế hoạch phải có tính chiến lược, khả thi và tạo đóng góp đột phá cho phát triển bền vững kinh tế biển. Một trong những mục tiêu quan trọng được ông nêu ra là ứng dụng các công nghệ tiên tiến, đột phá như AI, dữ liệu lớn, IoT; đồng thời tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện hiện đại phục vụ điều tra cơ bản, quan trắc, kiểm soát, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Các động lực về khoa học, công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực phải được đặt trong mục tiêu nâng cao giá trị kinh tế, bảo vệ môi trường và mở rộng cơ hội phát triển cho người dân. Hiệu quả của đổi mới sáng tạo cần được đánh giá bằng khả năng ứng dụng vào quản lý, sản xuất, dự báo rủi ro và phục hồi hệ sinh thái, thay vì chỉ dừng ở kết quả nghiên cứu.

Nghị quyết 20 hướng tới xây dựng nền kinh tế biển hiện đại, xanh và có sức cạnh tranh quốc tế. Trọng tâm là chuyển lợi thế tự nhiên thành lợi thế về tri thức, công nghệ và năng lực quản trị; phát triển các nguồn lực mới; nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng biển gắn với bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Tầm nhìn đó đã nhanh chóng được cụ thể hóa bằng hành động. Ngày 7/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, xác định 9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, Chính phủ yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao; tạo đột phá đối với các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành kinh tế biển mới. Chương trình cũng đặt ra những hướng đi cụ thể như nuôi biển công nghệ cao, dược liệu biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydrogen, amoniac xanh và hạ tầng cáp ngầm biển,... Qua đó, “động lực mới từ biển” không còn dừng ở định hướng, mà đang được chuyển hóa thành chương trình và nhiệm vụ cụ thể.

Xây dựng quốc gia biển mạnh trong kỷ nguyên mới

Đáng chú ý, Nghị quyết 20 khẳng định một nguyên tắc xuyên suốt: Phát triển kinh tế biển phải luôn đặt song hành với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh. Nghị quyết luôn đặt những nhiệm vụ ấy trong một mục tiêu lớn hơn - xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, quốc gia phát triển, thịnh vượng, an toàn và bền vững. Điều đó cho thấy, phát triển biển không còn là câu chuyện của riêng các tỉnh ven biển hay của một ngành kinh tế, mà là chiến lược phát triển quốc gia trong nhiều thập niên tới.

Không gian biển chỉ có thể trở thành động lực phát triển khi được tổ chức theo một tầm nhìn thống nhất và có cơ chế phối hợp hiệu quả. Việc thực hiện Nghị quyết đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của các cơ quan Trung ương, địa phương, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng cư dân ven biển, trong đó phải xác định rõ trách nhiệm, nguồn lực, tiến độ và kết quả đầu ra của từng chủ thể.

Nghị quyết 20 nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường; giữa phát triển với bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữa nội lực với hợp tác quốc tế. Đây không chỉ là phương châm hành động mà còn là cách tiếp cận để Việt Nam xây dựng vị thế của một quốc gia biển hiện đại trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập ngày càng sâu rộng.

Trong bức tranh ấy, ngành Nông nghiệp và Môi trường giữ một vai trò đặc biệt. Từ điều tra cơ bản tài nguyên biển, quản lý tổng hợp vùng bờ, bảo vệ hệ sinh thái, phát triển kinh tế biển xanh đến tổ chức thực hiện các chương trình hành động sau Nghị quyết, ngành đang góp phần tạo dựng nền tảng để phát triển bền vững từ biển. Bởi một quốc gia biển mạnh trước hết phải là quốc gia biết quản trị tốt tài nguyên, gìn giữ môi trường và sử dụng hiệu quả từng lợi thế tự nhiên.

z7319272829239_467f3eff2a565227c4f2938397363f94-145834_439-155343_1786351702.webp
Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng phát biểu tại Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam 2025. Sự kiện do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức chiều 12/12/2025 tại Quảng Ninh.  Ảnh: Tùng Đinh

Phát biểu tại Diễn đàn Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam 2025, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức chiều 12/12/2025 tại Quảng Ninh, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng đề nghị tập trung vào ba nhóm nội dung: Xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế biển phù hợp bối cảnh mới, dựa trên khoa học - công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo; phát triển đồng bộ hệ sinh thái kinh tế biển; nâng cao quản trị biển hiện đại với thể chế hiệu lực, hiệu quả, giám sát tiên tiến, kiểm soát ô nhiễm và phục hồi hệ sinh thái.

Cũng tại Diễn đàn, nguyên Bộ trưởng Trần Đức Thắng thẳng thắn chỉ ra những vấn đề thực tiễn: Thể chế chưa theo kịp yêu cầu phát triển; các ngành kinh tế biển phát triển không đồng đều; hạ tầng ven biển còn hạn chế; ô nhiễm và khai thác vượt khả năng phục hồi vẫn diễn ra; năng lực điều phối liên ngành, liên vùng cần tiếp tục được củng cố. Thực tế này cho thấy, xây dựng quốc gia biển mạnh không thể chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng, mà còn phải được đánh giá bằng chất lượng quản trị, sức khỏe của hệ sinh thái và mức độ thụ hưởng của cộng đồng cư dân ven biển.

Mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh không thể chỉ dựa vào nguồn tài nguyên hiện có, mà phụ thuộc vào năng lực tạo ra giá trị mới từ biển và không gian biển. Kết quả nghiên cứu phải được chuyển giao, ứng dụng vào quản lý và sản xuất; sáng kiến công nghệ phải được thương mại hóa; chính sách phải được cụ thể hóa bằng chương trình hành động; người dân ven biển phải được tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển.

Cùng với đó, các hoạt động gắn với kinh tế biển từ khai thác và nuôi trồng thủy sản, vận tải và dịch vụ cảng biển đến nghiên cứu khoa học, bảo tồn biển và phục hồi rừng ngập mặn cần được tổ chức trong một khuôn khổ quản trị thống nhất, dựa trên quy hoạch, dữ liệu và tiêu chuẩn môi trường, nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế và khả năng phục hồi của hệ sinh thái.

Trong giai đoạn phát triển mới, biển tiếp tục giữ vị trí chiến lược đối với kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước. Việc thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 20-NQ/TW sẽ góp phần mở rộng không gian phát triển, hình thành các động lực tăng trưởng mới và tạo nền tảng để Việt Nam tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, giàu mạnh, an toàn và bền vững.

Từ đổi mới tư duy trong Kỳ I, các chương trình hành động ở Kỳ II đến những động lực phát triển mới được phân tích trong Kỳ III, Nghị quyết số 20-NQ/TW xác lập định hướng tổng thể để xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, trọng tâm là hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng điều tra cơ bản và dữ liệu biển, bảo vệ môi trường, phát triển thủy sản bền vững, tăng cường khoa học - công nghệ và phối hợp hiệu quả với các bộ, ngành, địa phương. 

 

Hồng Minh