Du lịch xanh: Động lực tăng trưởng bền vững

Du lịch xanh: Động lực tăng trưởng bền vững

Chủ nhật, 27/9/2026, 08:26 (GMT+7)
logo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực tăng trưởng mới của đất nước; đồng thời, đặt yêu cầu chuyển mạnh mô hình phát triển từ dựa vào số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo và bền vững. Đây cũng là hướng đi phù hợp trước những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu (BĐKH), sức ép lên nông nghiệp và môi trường.
du-lich-bien-hoi-an_1790237012.jpg
Bãi biển Hội An, TP. Đà Nẵng. Ảnh Đỗ Nhuận

Chuyển đổi mô hình phát triển du lịch bền vững

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành du lịch Việt Nam đã có bước phát triển tích cực. Thị trường ngày càng mở rộng, hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư, sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, chuyển đổi số từng bước được đẩy mạnh. Năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế và 137 triệu lượt khách nội địa. Tuy nhiên, yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới đang đặt ra những vấn đề khác.

Theo Nghị quyết 26-NQ/TW, du lịch phát triển chưa thực sự bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng; sản phẩm còn thiếu chiều sâu, sức sáng tạo và giá trị gia tăng; năng lực quản trị điểm đến, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng dịch vụ còn hạn chế. Sự phối hợp liên ngành, liên vùng chưa đồng bộ; những điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nguồn lực và tổ chức thực hiện vẫn cần tiếp tục tháo gỡ.

Trong bối cảnh đó, du lịch xanh không chỉ được nhìn nhận như một xu hướng của thị trường mà trở thành một bộ phận quan trọng của mô hình phát triển mới. Nghị quyết 26-NQ/TW xác định rõ yêu cầu phát triển du lịch theo hướng chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hóa và có giá trị gia tăng cao. Đây là sự chuyển đổi từ tư duy khai thác tài nguyên đơn thuần sang tạo dựng giá trị trên nền tảng tài nguyên, văn hóa, công nghệ và chất lượng trải nghiệm. Điều này, đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh BĐKH đang tác động ngày càng mạnh đến các điểm đến. Nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở, bão lũ và thời tiết cực đoan không chỉ ảnh hưởng đến hạ tầng mà còn đe dọa chính những tài nguyên tạo nên sức hấp dẫn của du lịch.

Với đường bờ biển dài, hệ sinh thái đa dạng, nhiều khu bảo tồn, vườn quốc gia, vùng núi, đồng bằng, làng nghề và hệ thống di sản văn hóa phong phú, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch xanh. Tuy nhiên, lợi thế tài nguyên chỉ có thể trở thành lợi thế cạnh tranh nếu được tổ chức khai thác theo hướng bền vững. Bên cạnh đó, những mô hình điểm tại một số địa phương như: Du lịch cộng đồng tại Mai Châu (tỉnh Phú Thọ), đô thị xanh Hội An (TP. Đà Nẵng), đảo xanh Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh), du lịch sinh thái tại Phong Nha - Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Trị) hay mô hình farmstay tại Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) cho thấy, khả năng kết hợp giữa phát triển du lịch, bảo vệ môi trường và tạo sinh kế cho cộng đồng là hướng đi bền vững. 

ban-lac-mai-chau_1790237335.jpg
Mô hình du lịch xanh Bản Lác, Mai Châu, tỉnh Phú Thọ. Ảnh Viettravel

Điểm chung của các mô hình này là giảm áp lực lên tài nguyên, khuyến khích sự tham gia của người dân và từng bước chuyển từ khai thác số lượng sang nâng cao chất lượng trải nghiệm. Từ góc độ này, phát triển du lịch xanh không chỉ là câu chuyện của ngành du lịch. Nghị quyết 26-NQ/TW xác định du lịch là một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, có quan hệ chặt chẽ với thương mại, giao thông vận tải, nông nghiệp, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp sáng tạo, kinh tế số và kinh tế đêm. Đây chính là cơ sở để du lịch xanh mở rộng không gian phát triển, tạo thêm giá trị cho nhiều ngành kinh tế và đưa lợi ích của du lịch lan tỏa sâu hơn đến cộng đồng.

Xanh hóa điểm đến, nâng cao chất lượng trải nghiệm

Một trong những yêu cầu quan trọng của Nghị quyết 26-NQ/TW là xây dựng hệ thống điểm đến và sản phẩm du lịch xanh, thông minh, an toàn, bền vững. Thực tế cho thấy, tại nhiều điểm đến, cơ sở hạ tầng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển xanh. Giao thông sử dụng nhiên liệu hóa thạch, cơ sở lưu trú tiêu thụ nhiều năng lượng, hệ thống xử lý chất thải chưa đồng bộ, trong khi nhận thức và hành vi của một bộ phận du khách, doanh nghiệp về bảo vệ môi trường còn hạn chế.

Nếu không giải quyết những vấn đề này, tăng trưởng khách có thể đồng thời làm gia tăng áp lực lên tài nguyên và môi trường. Khi đó, chính sự phát triển du lịch lại làm suy giảm sức hấp dẫn của điểm đến. Vì vậy, xanh hóa du lịch cần bắt đầu từ chính điểm đến. Giao thông sạch, tiết kiệm năng lượng, giảm sử dụng nhựa dùng một lần, phân loại và xử lý chất thải, sử dụng năng lượng tái tạo, tiết kiệm nước, bảo vệ cảnh quan và hệ sinh thái cần trở thành những yêu cầu ngày càng phổ biến trong hoạt động du lịch.

Nghị quyết 26-NQ/TW đã đặt vấn đề phát triển giao thông xanh bằng phương tiện sạch như xe điện, xe buýt điện tại các đô thị, đảo du lịch và khu vực kinh tế đêm; đồng thời yêu cầu phát triển các điểm đến, sản phẩm và dịch vụ du lịch xanh. Đối với các khu vực nhạy cảm về môi trường như đảo, ven biển, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết. Không thể phát triển du lịch bằng cách gia tăng lượng khách vô hạn trong khi sức chịu tải của môi trường có giới hạn.

Kinh nghiệm từ Cô Tô cho thấy, việc kiểm soát túi nilon và chai nhựa dùng một lần, khuyến khích sử dụng năng lượng sạch và huy động du khách tham gia bảo vệ môi trường có thể tạo ra những thay đổi tích cực. Tương tự, mô hình tại Mai Châu cho thấy khi người dân trực tiếp tham gia vận hành homestay, cung cấp dịch vụ và bảo tồn văn hóa, du lịch có thể tạo thêm sinh kế mà không làm gia tăng áp lực khai thác tài nguyên.

Hội An cũng cho thấy một hướng tiếp cận khác: du lịch xanh không chỉ dành cho những vùng thiên nhiên nguyên sơ mà có thể được tích hợp vào không gian đô thị và di sản. Phương tiện giao thông thân thiện môi trường, giảm rác thải nhựa, phát triển tour sinh thái, gắn bảo tồn di sản với trải nghiệm của du khách là những cách thức để nâng cao chất lượng điểm đến.

Nghị quyết 26-NQ/TW đồng thời nhấn mạnh việc lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, lấy bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với du lịch xanh Việt Nam. Xanh không có nghĩa là chỉ giảm rác thải hay sử dụng năng lượng sạch. Một điểm đến xanh phải tạo ra trải nghiệm có trách nhiệm, tôn trọng thiên nhiên, văn hóa và cộng đồng. Du khách không chỉ đến để tham quan mà còn có thể trở thành người tham gia bảo tồn cảnh quan, tìm hiểu văn hóa bản địa, trải nghiệm sản xuất nông nghiệp, làng nghề, ẩm thực và đời sống cộng đồng.

Theo TS. Nguyễn Văn Lưu, Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam cho biết, để phát triển du lịch xanh ở đô thị cần đồng thời nâng cao nhận thức, xây dựng chiến lược và quy hoạch, hoàn thiện cơ chế chính sách, phát triển sản phẩm đúng hướng và tổ chức truyền thông có chuyên môn, phù hợp. Quan điểm này cho thấy, phát triển du lịch xanh không thể chỉ dựa vào một vài dự án hay phong trào. Điều cần thiết là xây dựng một phương thức quản trị mới, trong đó Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp tiên phong, cộng đồng tham gia và du khách cùng chia sẻ trách nhiệm.

Hoàn thiện thể chế, chính sách cho du lịch xanh 

Nghị quyết 26 đặt mục tiêu đến năm 2030 du lịch Việt Nam đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP, đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa và đạt tổng thu từ khách du lịch 80 - 90 tỷ USD. Đồng thời, hình thành 3 cực tăng trưởng du lịch là TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng, cùng 10 trung tâm du lịch trọng điểm và 20 khu du lịch quốc gia.

Những mục tiêu này cho thấy, quy mô phát triển du lịch trong giai đoạn tới sẽ rất lớn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hút thêm khách mà phải nâng cao giá trị tạo ra từ mỗi chuyến đi, kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu, nâng chất lượng dịch vụ và giảm tác động đến môi trường. Muốn vậy, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách cho du lịch xanh; xây dựng các tiêu chí phù hợp với từng loại hình và điểm đến; khuyến khích đầu tư vào hạ tầng xanh; có chính sách tín dụng, tài chính hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện dự án du lịch xanh, bền vững. Nghị quyết 26-NQ/TW cũng đề cập việc sử dụng hiệu quả các công cụ tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích đầu tư và phát triển các mô hình du lịch xanh.

Cùng với đó là yêu cầu phát triển sản phẩm. Du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch di sản, du lịch biển đảo, du lịch trải nghiệm và các sản phẩm gắn với văn hóa bản địa cần được phát triển theo hướng chuyên nghiệp hơn. Đặc biệt, Nghị quyết 26-NQ/TW yêu cầu tăng cường liên kết giữa lữ hành, vận chuyển, lưu trú, dịch vụ và sản phẩm địa phương để gia tăng giá trị nội địa; đồng thời phát triển các sản phẩm gắn với sinh thái nông nghiệp, nông thôn, làng nghề, chợ phiên và trải nghiệm văn hóa bản địa.

Đây là hướng mở rộng đáng chú ý đối với các địa phương có lợi thế về nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên. Sản phẩm nông nghiệp, OCOP, làng nghề, ẩm thực và văn hóa địa phương nếu được tổ chức thành chuỗi trải nghiệm sẽ vừa tạo thêm giá trị cho du lịch, vừa mở rộng thị trường cho sản phẩm địa phương.

Một yêu cầu khác không thể thiếu là nguồn nhân lực. Du lịch xanh cần những người lao động không chỉ giỏi nghiệp vụ mà còn có tư duy xanh, kỹ năng số, khả năng giao tiếp quốc tế và hiểu biết về môi trường, văn hóa. Nghị quyết 26-NQ/TW xác định xây dựng đội ngũ nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu chuyên môn, ngoại ngữ và công nghệ; đồng thời, hỗ trợ đào tạo kỹ năng cho lao động nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo để người dân có sinh kế bền vững từ du lịch.

Cùng với đó, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số có thể giúp quản lý sức tải điểm đến, tiết kiệm năng lượng, kiểm soát tài nguyên, cung cấp thông tin cho du khách và nâng cao hiệu quả vận hành. Nghị quyết 26-NQ/TW đặt mục tiêu hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia và nền tảng số du lịch quốc gia. Đồng thời, khuyến khích ứng dụng Internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo để quản lý năng lượng, nước, giám sát môi trường và giảm phát thải trong du lịch. Đây cũng là điều kiện để các mô hình du lịch xanh chuyển từ quy mô nhỏ sang phát triển có hệ thống.

Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 263/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW. Chương trình nhấn mạnh yêu cầu tạo chuyển biến mạnh mẽ về tư duy và phương thức phát triển du lịch theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và giá trị gia tăng cao; gắn du lịch với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển văn hóa. Như vậy, phát triển du lịch xanh đã có thêm một nền tảng chính sách quan trọng để chuyển từ nhận thức sang hành động. 

Phát triển du lịch xanh trong bối cảnh BĐKH không chỉ là yêu cầu bảo vệ môi trường mà còn là lựa chọn về mô hình tăng trưởng. Nghị quyết 26-NQ/TW đã mở ra định hướng mới khi đặt du lịch trong hệ sinh thái kinh tế tổng hợp và yêu cầu chuyển mạnh từ phát triển dựa vào số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo và bền vững. Đây cũng chính là con đường để Việt Nam vừa khai thác hiệu quả lợi thế thiên nhiên, văn hóa, vừa nâng cao chất lượng trải nghiệm, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng của ngành du lịch, qua đó hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

Nguyên Khôi