news
Nạo vét bờ biển, tăng sức chống chịu cho tỉnh Cà Mau

Nạo vét bờ biển, tăng sức chống chịu cho tỉnh Cà Mau

Thứ tư, 30/9/2026, 12:23 (GMT+7)
logo Trước diễn biến ngày càng phức tạp của sạt lở, bồi lắng, thiếu nước ngọt và tác động của biến đổi khí hậu, Cà Mau đang đứng trước yêu cầu chuyển từ tư duy xử lý đơn thuần hoạt động nạo vét sang quản lý, tận dụng hiệu quả vật liệu nạo vét để gây bồi tạo bãi, phục hồi rừng ngập mặn và tăng khả năng chống chịu của vùng ven biển.
anh-ca-mau_1790411889.jpg
Cà Mau là địa phương có hệ thống sông, kênh, rạch dày đặc. Ảnh minh họa

Từ bài toán nạo vét đến yêu cầu quản trị tổng thể vùng ven biển

Theo Báo cáo tại Hội thảo khoa học ngày 17/9 do UBND tỉnh Cà Mau tổ chức với chủ đề “Các giải pháp nạo vét, tận dụng vật liệu để gây bồi, phục hồi vùng bãi, phát triển rừng ngập mặn ven biển và giải pháp chuyển nước tạo nguồn nhằm tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển tỉnh Cà Mau” cho thấy, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là vật liệu nạo vét.

Hội thảo có sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia, cơ quan chuyên môn, viện nghiên cứu và trường đại học, tập trung thảo luận các giải pháp khoa học, công nghệ, cơ chế, chính sách nhằm xử lý những vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn quản lý vùng ven biển Cà Mau.

Cà Mau là địa phương có hệ thống sông, kênh, rạch dày đặc với khoảng 14.000 km kênh, rạch các cấp, 31 tuyến đường thủy nội địa do tỉnh quản lý, cùng nhiều cửa sông, cửa biển và công trình thủy lợi phục vụ sản xuất, giao thông thủy, phòng, chống thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh có trên 310 km bờ biển, đồng thời chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún đất, xâm nhập mặn, hạn hán, suy giảm nguồn bùn cát từ thượng nguồn và những diễn biến ngày càng phức tạp của quá trình bồi - xói ven biển.

Thực tế cho thấy, nạo vét không còn là câu chuyện đơn thuần của khơi thông dòng chảy hay duy trì năng lực khai thác công trình. Với một địa phương có đặc điểm địa hình thấp, mạng lưới sông rạch dày đặc và bờ biển dài như Cà Mau, mỗi hoạt động nạo vét đều liên quan tới dòng chảy, vận chuyển bùn cát, thủy lợi, giao thông thủy, sinh thái ven biển, sản xuất và sinh kế của người dân.

Những năm qua, nhiều công trình thủy lợi, cửa sông, cửa biển và tuyến giao thông thủy sau khi được nạo vét đã cải thiện khả năng dẫn nước, tiêu úng, giảm bồi lắng, bảo đảm lưu thông tàu thuyền và nâng cao hiệu quả khai thác công trình. Tuy nhiên, hoạt động này hiện vẫn chủ yếu được triển khai theo từng dự án hoặc khi có nguồn vốn, chưa hình thành cơ chế duy tu thường xuyên dựa trên chu kỳ bồi lắng tự nhiên và yêu cầu khai thác công trình. Nhiều tuyến kênh, cửa sông, cửa biển sau một thời gian ngắn tiếp tục bồi lắng nhưng chưa có nguồn lực xử lý kịp thời.

Phần lớn vật liệu nạo vét ở Cà Mau là bùn, bùn sét và trầm tích phù sa, có đặc tính khác với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường. Tuy nhiên, việc phân loại, đánh giá chất lượng, vận chuyển, lưu giữ và sử dụng nguồn vật liệu này vẫn chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật. Trong khi đó, chưa có cơ chế thật rõ để khai thác nguồn vật liệu này phục vụ gây bồi tạo bãi, phục hồi rừng ngập mặn, tôn tạo bờ biển, cải tạo mặt bằng hoặc các mục đích phù hợp khác. Hệ quả là một nguồn vật chất có khả năng đóng góp cho phục hồi tự nhiên lại phần lớn được xử lý theo hướng phải tìm nơi đổ, làm tăng chi phí và áp lực quản lý.

Tại các cửa sông, cửa biển, nhu cầu nạo vét duy tu hằng năm rất lớn để bảo đảm giao thông thủy, khai thác thủy sản và phòng, chống thiên tai. Nhưng việc bố trí vị trí tiếp nhận vật liệu nạo vét gặp nhiều khó khăn bởi khu vực ven biển chủ yếu là rừng phòng hộ, bãi bồi và chưa có quy hoạch đầy đủ các bãi đổ tập trung. Còn với hệ thống sông, kênh, rạch nội đồng, khối lượng đất, bùn phát sinh từ nạo vét thủy lợi mỗi năm ước tính trên hàng chục triệu mét khối. Ở những khu vực dân cư tập trung, việc thiếu quỹ đất để tiếp nhận vật liệu khiến nhiều nơi phải đổ tạm sát mép kênh, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở và làm vật liệu tiếp tục rơi trở lại lòng kênh.

Đáng chú ý, Cà Mau còn đứng trước bài toán thiếu nguồn lực. Nhu cầu nạo vét, chỉnh trị cửa sông, cửa biển và duy tu luồng giao thông thủy ngày càng tăng, trong khi ngân sách chủ yếu mới ưu tiên những công trình cấp bách. Cơ chế xã hội hóa, hợp tác công - tư chưa đủ hấp dẫn doanh nghiệp do giá trị thương mại của vật liệu nạo vét thấp, trong khi chi phí vận chuyển, xử lý lớn.

Bởi vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là “nạo vét ở đâu, khi nào và bằng nguồn vốn nào”, mà rộng hơn là làm thế nào để quản trị toàn bộ vòng đời của hoạt động nạo vét, từ khảo sát, dự báo bồi lắng, thiết kế, thi công đến phân loại, vận chuyển và tái sử dụng vật liệu.

Chuyển từ “xử lý bùn” sang sử dụng tài nguyên phục hồi tự nhiên

Một trong những thông điệp đáng chú ý tại Hội thảo là yêu cầu thay đổi cách tiếp cận đối với vật liệu nạo vét. Thay vì nhìn nhận toàn bộ bùn, bùn sét, trầm tích sau nạo vét như chất thải hoặc khoáng sản khai thác thương mại, cần có cơ chế phân loại dựa trên chất lượng, thành phần và mục đích sử dụng, từ đó xác định vật liệu nào có thể tái sử dụng và sử dụng vào đâu.

Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với đặc thù Cà Mau, nơi vật liệu nạo vét phần lớn là bùn phù sa và có thể có giá trị đối với quá trình phục hồi tự nhiên. Nếu được đánh giá, kiểm soát chất lượng và sử dụng phù hợp, nguồn vật liệu này có thể phục vụ gây bồi tạo bãi, phục hồi bãi triều, chống sạt lở, tôn tạo mặt bằng, phục hồi hệ sinh thái và tạo điều kiện cho rừng ngập mặn tái sinh, phát triển. Hội thảo đặt vấn đề chuyển từ tư duy “xử lý bùn thải” sang “quản lý và sử dụng tài nguyên bùn cát phục vụ phục hồi tự nhiên”.

10.-ca-mau_1790519741.jpg
Dự án nạo vét cửa biển Cái Ðôi Vàm khởi công sẽ tạo luồng tuyến thông thoáng cho tàu thuyền công suất lớn ra vào cửa. Ảnh: Lê Chí

PGS,TS. Trần Thanh Tùng, Phó Trưởng khoa Công trình, Trường Đại học Thủy lợi, cho rằng để quản lý tốt hoạt động nạo vét hệ thống thủy lợi, giao thông thủy, các cấp, ngành và địa phương cần liên thông dữ liệu, chia sẻ thông tin, quy hoạch và phối hợp thực hiện; đồng thời phải hình thành dịch vụ duy tu chủ động, thực hiện nạo vét khi cần thiết. Theo ông, vật liệu nạo vét cũng cần được coi là tài nguyên và phải phân loại để xác định khả năng tái sử dụng, cũng như mục đích sử dụng phù hợp.

Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu hoàn thiện đồng bộ cơ chế chính sách. Hoạt động nạo vét hiện liên quan tới pháp luật về địa chất và khoáng sản, tài nguyên nước, đất đai, bảo vệ môi trường, giao thông đường thủy nội địa và đầu tư xây dựng. Khi các quy định chưa được kết nối thống nhất, cùng một loại vật liệu có thể phát sinh những cách hiểu và quy trình xử lý khác nhau, làm tăng chi phí và kéo dài thời gian tổ chức thực hiện. Vì vậy, cần nghiên cứu tiêu chí phân loại vật liệu, quy trình quản lý, vận chuyển, lưu giữ, tái sử dụng hoặc xử lý đối với từng nhóm, đồng thời bảo đảm kiểm soát nguồn gốc, khối lượng, chất lượng và quá trình sử dụng.

Khoa học, công nghệ được xác định là một trong những chìa khóa để thay đổi phương thức quản lý. Cà Mau hiện còn thiếu cơ sở dữ liệu đồng bộ về diễn biến bồi lắng, lòng dẫn, trữ lượng và chất lượng vật liệu nạo vét cũng như nhu cầu sử dụng vật liệu sau nạo vét. Công tác quan trắc phần lớn vẫn gắn với từng dự án, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý dài hạn.

Việc ứng dụng GIS, viễn thám, UAV, LiDAR, mô hình thủy lực, trí tuệ nhân tạo và cơ sở dữ liệu số có thể tạo ra bước chuyển trong khảo sát, thiết kế, dự báo bồi lắng và giám sát thi công. Đặc biệt, khi chi phí khảo sát, lập dự án và thiết kế hiện có thể chiếm khoảng 20-30% tổng mức đầu tư đối với công trình nạo vét, việc chuẩn hóa thiết kế và ứng dụng công nghệ số được kỳ vọng góp phần giảm chi phí chuẩn bị đầu tư, đồng thời nâng cao chất lượng quản lý.

Cùng với bài toán bùn cát, Hội thảo cũng đặt vấn đề an ninh nguồn nước như một thành tố quan trọng của khả năng chống chịu. PGS,TS. Tô Văn Thanh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, cho biết hệ thống kênh thủy lợi của Cà Mau hiện có khả năng trữ khoảng 276 triệu m³ nước, nhưng khó khăn lớn là thiếu nguồn nước ngọt có chất lượng phù hợp và ổn định. Vấn đề thể hiện rõ vào mùa khô, nhất là tại khu vực ven biển, vùng sâu, vùng xa, vùng ngọt hóa và những nơi không có khả năng khai thác nước dưới đất hoặc nguồn nước dưới đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.

Theo đó, chuyển nước tạo nguồn, xây dựng hồ chứa, liên kết hệ thống kênh mương trữ nước, cùng các mô hình quản lý và sử dụng nước tiết kiệm cần được nghiên cứu trong một tổng thể thống nhất với quản lý thủy lợi, tài nguyên nước và thích ứng biến đổi khí hậu.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không phải là xử lý từng điểm sạt lở, từng tuyến kênh hay từng dự án nạo vét một cách riêng lẻ, mà cần hình thành cách tiếp cận tổng thể dựa trên dữ liệu, khoa học, dự báo và liên kết vùng. Đây cũng là tinh thần được Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử nhấn mạnh khi dẫn yêu cầu tại Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị về chuyển từ “tư duy ứng phó sang tư duy chủ động quản trị rủi ro, dựa trên dữ liệu, khoa học và dự báo”.

Từ nạo vét đến phục hồi bãi triều, từ sử dụng bùn cát đến phát triển rừng ngập mặn, từ chuyển nước tạo nguồn đến quản trị hệ thống thủy lợi, các vấn đề tại Cà Mau cho thấy, khả năng chống chịu vùng ven biển cần được xây dựng bằng một chuỗi giải pháp liên kết. Khi vật liệu nạo vét được nhìn nhận đúng giá trị, khoa học - công nghệ trở thành công cụ quản trị và cơ chế chính sách được hoàn thiện theo hướng thống nhất, minh bạch, nguồn lực cho phục hồi tự nhiên và phát triển bền vững vùng ven biển sẽ có thêm dư địa để được khai mở.                    

Minh Tiến