Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các thách thức môi trường ngày càng tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế - xã hội, Diễn đàn Quốc gia về Môi trường và Khí hậu năm 2026 với chủ đề “Từ chính sách đến hành động” được tổ chức nhằm tạo không gian đối thoại đa chiều giữa cơ quan quản lý, giới chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.
Diễn đàn được tổ chức vào sáng ngày 05/6 tại phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An. Sự kiện kỳ vọng sẽ góp phần thúc đẩy việc đưa các cam kết, chiến lược và chính sách về môi trường, khí hậu đi vào thực tiễn, tạo động lực cho quá trình phát triển xanh, bền vững của đất nước.
Các đại biểu tham dự Diễn đàn Quốc gia về Môi trường và Khí hậu năm 2026 với chủ đề “Từ chính sách đến hành động”
Trong khuôn khổ của Diễn đàn, có nhiều bài tham luận chuyên sâu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách môi trường trong giai đoạn hiện nay.
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải chuyển mạnh từ “cam kết” sang “hành động thực chất”, coi đây là chìa khóa để giải quyết hiệu quả các thách thức môi trường và biến đổi khí hậu hiện nay. Bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu là nhiệm vụ lâu dài, khó khăn nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Thành công không chỉ phụ thuộc vào chính sách đúng, mà quan trọng hơn là tổ chức thực hiện hiệu quả với sự tham gia thực chất của tất cả các chủ thể.Ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An khẳng định: Trong thời gian tới, Nghệ An sẽ tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về môi trường. Cùng với đó, tỉnh ưu tiên phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy chuyển đổi năng lượng sạch, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải khí nhà kính.Tham luận tại Diễn đàn, ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cho rằng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường - Cơ quan chủ trì soạn thảo đã rất khẩn trương, nghiêm túc và bài bản trong quá trình soạn thảo Dự án Luật Bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm chất lượng và tiến độ. Đặc biệt, cần phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, gắn với trách nhiệm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Các quy định về thẩm quyền phải gắn với trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu địa phương trong công tác bảo vệ môi trường, đúng tinh thần là “chịu trách nhiệm về ô nhiễm xảy ra trên địa bàn”.TS. Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Môi trường trong bài tham luận “Một số điểm mới trong dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật bảo vệ môi trường năm 2020” khẳng định: Luật BVMT 2020 đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong công tác quản lý nhà nước sau hơn 05 năm triển khai (giấy phép môi trường, EPR, thị trường các-bon...). Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn. Một số quy định chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế; ứng dụng công nghệ số còn hạn chế; các công cụ kinh tế chưa phát huy đầy đủ hiệu quả. Quan điểm xây dựng dự thảo luật dựa trên 3 nền tảng quan trọng: Tổng kết, đánh giá toàn diện, trên cơ sở cập nhật, bổ sung kết quả giám sát tối cao của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường trong năm 2025; Kế thừa và phát huy các chính sách tiến bộ của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Thể chế hóa chủ trương của Đảng, bám sát Nghị quyết Đại hội XIV về phát triển bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.Tại phiên Tọa đàm hành động chống ô nhiễm không khí và giảm phát thải khí nhà kính PGS, TS. Lý Bích Thủy - Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, thực trạng ô nhiễm không khí tại Việt Nam hiện nay ngày càng đáng lo ngại. Để có thể cải thiện chất lượng bầu không khí trong thời gian tới, đây không còn là nhiệm vụ riêng lẻ của bất kỳ ai, mà đòi hỏi một nỗ lực tổng thể và toàn diện. Cần có sự chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, kết hợp với sự phối hợp đồng bộ giữa các địa phương, doanh nghiệp và hành động cụ thể từ cấp cơ sở như phường, xã, kết hợp cùng ý thức của mỗi người dân.
Thứ trưởng Lê Công Thành (ngoài cùng bên trái) và Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Ngọc Thạch (ngoài cùng bên phải) vinh danh các đơn vị đồng hành
Diễn đàn Quốc gia về Môi trường và Khí hậu năm 2026 khẳng định vai trò là diễn đàn đối thoại chính sách quan trọng, nơi các cơ quan quản lý nhà nước, địa phương, doanh nghiệp, nhà khoa học, tổ chức quốc tế và cộng đồng cùng trao đổi, chia sẻ và thống nhất nhận thức về các vấn đề môi trường và khí hậu của đất nước. Thông điệp xuyên suốt của Diễn đàn là: “Từ chính sách đến hành động” không chỉ là chủ đề của một sự kiện, mà là yêu cầu đặt ra đối với toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi chính sách môi trường trong giai đoạn hiện nay.
Phân họ Xén tóc thường Cerambycinae (Coleoptera: Cerambycidae) ở Việt Nam đã ghi nhận 397 loài thuộc 98 giống và 20 tộc. Có 5 tộc chiếm ưu thế về số lượng loài, đó là: tộc Clytini chiếm 32,24%; tộc Callichromatini chiếm 15,87%; tộc Cerambycini chiếm 14,86%; tộc Callidiopini chiếm 5,79% và tộc Molorchini chiếm 4,28%. Phân tích đặc điểm phân bố của các loài Xén tóc Cerambycinae ở Việt Nam theo các vùng địa lý tự nhiên, vùng Đông Bắc có số lượng loài cao nhất, chiếm đến 64,05% tổng số loài. Các vùng tiếp theo lần lượt là: vùng Nam Trường Sơn chiếm 25,32%; vùng Tây Bắc chiếm 24,30%; vùng Tây Nguyên chiếm 24,30%; miền Nam Việt Nam chiếm 12,41% và vùng Bắc Trường Sơn chiếm 11,39%. Về mức độ tương đồng, thành phần loài Xén tóc thường tại vùng Đông Bắc có độ tương đồng với vùng Tây Bắc nhất. Khu vực Nam Trường Sơn có thành phần loài Xén tóc thường tương đồng nhất so với vùng Tây Nguyên Thành phần loài Xén tóc thường tại khu vực Tây Nguyên có mức độ tương đồng cao so với miền Nam Việt Nam.
Nghiên cứu đánh giá chất lượng môi trường nước mặt huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh được thực hiện tại 17 vị trí lấy mẫu nước mặt trên sông Cà Lồ, sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê và một số ao, hồ huyện Yên Phong vào mùa mưa và mùa khô năm 2019. Kết quả cho thấy: Chất lượng nước sông Cầu bị ảnh hưởng nhiều bởi hoạt động sản xuất làng nghề. Nước mặt sông Ngũ Huyện Khê có dấu hiệu của sự ô nhiễm các chỉ tiêu như: BOD5; COD; Amoni; Nitrit; Photphat.. Nước sông Cà Lồ tương đối sạch mặt khác sông không tiếp nhận nguồn thải từ hoạt động sản xuất làng nghề và CCN cũng như KCN của địa bàn. Chất lượng nước mặt ao hồ trong khu vực có dấu hiệu ô nhiễm bởi các chỉ tiêu như BOD5; COD; Pb; Fe; NH4+; PO43- vượt quá giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT.
Công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) trong những năm qua ở nước ta đã có những tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên, hậu quả của các vụ cháy, nổ làm chết người, gây thiệt hại nặng nề về vật chất và đặc biệt là làm ô nhiễm môi trường thì ngày càng nghiêm trọng. Điều đó, đòi hỏi công tác QLNN về PCCN cần phải tiếp tục được tăng cường.
Nhiều bãi rác tại Quảng Nam đang rơi vào tình trạng xuống cấp và quá tải, dẫn đến các sự cố môi trường. Trong khi đó, các dự án xử lý chất thải rắn theo công nghệ hiện đại lại chậm tiến độ đang ảnh hưởng đến việc thu gom, xử lý rác thải của địa phương.
Nghiên cứu đánh giá rủi ro môi trường của hệ thống xử lý nước thải (XLNT) KCN (KCN) tập trung Việt Hương 2 trên địa bàn tỉnh Bình Dương và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả dựa trên cơ sở các dữ liệu được thu thập, phân tích, đánh giá về chất lượng nguồn nước mặt, chất lượng nước thải sau xử lý, mức độ xả thải của các nhà máy trong KCN từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giảm thiểu đang ngày càng cấp bách và là cơ sở để cơ quan quản lý giám sát, định hướng các ngành nghề nào cần tiếp nhận vào KCN trong tương lai. Từ cơ cở phân tích chât lượng nước nguồn tiêp nhận sẽ xác định trách nhiệm của các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý có liên quan trong công tác quản lý nước thải qua đố đề xuất giải pháp phòng ngừa, khắc phục và giảm thiểu các sự cố môi trường do hoạt động xả nước thải từ KCN tập trung Việt Hương 2.