news
Tiền Giang: Đóng góp tích cực của các tổ chức tôn giáo trong bảo vệ môi trường

Tiền Giang: Đóng góp tích cực của các tổ chức tôn giáo trong bảo vệ môi trường

12/08/2026
Thời gian qua, các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tích cực vận động tín đồ tham gia hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; chung tay bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu… đã mang lại nhiều kết quả tích cực.
  • Thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất đô thị và một số đề xuất

    Thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất đô thị và một số đề xuất

    Việc tổ chức thực hiện CSPL đã có những chuyển biến tích cực, hiệu quả quản lý, sử dụng đất (SDĐ) tại đô thị từng bước được nâng cao, góp phần hạn chế thất thoát, tiêu cực, lãng phí. QH, KHSDĐ, quy hoạch đô thị đã góp phần khai thác tốt hơn tiềm năng đất đai phục vụ cho các mục tiêu phát triển KT-XH, QP-AN và BVMT. Mặc dù vậy, công tác quản lý, SDĐ đô thị còn những mặt tồn tại, hạn chế.
  • Quản trị biển, đại dương và tầm nhìn chiến lược để phát triển kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW

    Quản trị biển, đại dương và tầm nhìn chiến lược để phát triển kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW

    Trong bối cảnh hiện nay, muốn phát triển bền vững biển đảo, muốn làm chủ biển, đảo, rất cần phải thiết lập tư duy “Quản trị biển” chứ không chỉ “Quản lý biển”. Do vậy, cần tạo ra kỷ cương, xây dựng một hành lang chính sách và luật pháp trong công tác quản lý biển, bảo đảm chặt chẽ, minh bạch và toàn xã hội đều hoạt động, vận hành trong khuôn khổ hành lang quy tắc đó. Theo đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm, lộ trình thực hiện và phân công cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương có liên quan.
  • Định hướng, quan điểm sửa đổi, bổ sung các nội dung của Luật Bảo vệ môi trường

    Định hướng, quan điểm sửa đổi, bổ sung các nội dung của Luật Bảo vệ môi trường

    Xây dựng Luật BVMT phải bảo đảm phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước về BVMT và phát triển bền vững. Việc sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật tập trung vào các vấn đề cơ bản, trọng tâm chính về BVMT trong Luật BVMT và các luật có liên quan khác. Các quy định về BVMT trong các luật có liên quan phải đồng bộ, thống nhất, không trùng lặp, chồng chéo với các quy định trong Luật BVMT.
  • Đánh giá và xây dựng bản đồ hiện trạng chất lượng nước sông Châu Giang đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam giai đoạn tháng 11/2018 đến tháng 5/2019

    Đánh giá và xây dựng bản đồ hiện trạng chất lượng nước sông Châu Giang đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam giai đoạn tháng 11/2018 đến tháng 5/2019

    Nghiên cứu đánh giá và xây dựng bản đồ hiện trạng chất lượng nước và đề xuất các biện pháp kiểm soát ô nhiễm nước sông Châu Giang đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu để góp phần hỗ trợ cho các nhà quản lý môi trường tại địa phương có cách nhìn tổng thể và đưa ra các phương án để kiểm soát chất lượng nước trên sông Châu Giang nói riêng và BVMT nước nói chung. Kết quả cho thấy lượng nước Sông Châu Giang đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam, qua 2 đợt quan trắc tại 15 vị trí lấy mẫu cho thấy chỉ số chất lượng nước WQI dao động từ 63 đến 86, các thông số chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng như Nitơ và COD, BOD… đang có hiện tượng ô nhiễm nhẹ.
  • Đánh giá điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội góp phần định hướng sử dụng đất huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đến năm 2020

    Đánh giá điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội góp phần định hướng sử dụng đất huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đến năm 2020

    Sử dụng đất luôn gắn liền với quá trình phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất càng cao nên việc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể và định hướng sử dụng đất là rất quan trọng. Bài viết này nhằm nghiên cứu thực trạng phát triển KT-XH huyện Thoại Sơn giai đoạn 2011-2015 làm luận cứ cho việc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể KT-XH, góp phần định hướng sử dụng đất cho phù hợp, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của huyện Thoại Sơn đến năm 2020. Thông qua việc sử dụng kết hợp các thông tin thứ cấp thu thập tại các Sở ban ngành và tham vấn ý kiến các chuyên gia, nghiên cứu nhận thấy rằng để khai thác được tiềm năng và đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho mục tiêu phát KT-XH được điều chỉnh, việc giảm cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và tăng cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp nói chung là xu hướng sử dụng đất tất yếu của huyện.
  • Phân họ xén tóc thường góp phần đa dạng sinh học loài ở Việt Nam

    Phân họ xén tóc thường góp phần đa dạng sinh học loài ở Việt Nam

    Phân họ Xén tóc thường Cerambycinae (Coleoptera: Cerambycidae) ở Việt Nam đã ghi nhận 397 loài thuộc 98 giống và 20 tộc. Có 5 tộc chiếm ưu thế về số lượng loài, đó là: tộc Clytini chiếm 32,24%; tộc Callichromatini chiếm 15,87%; tộc Cerambycini chiếm 14,86%; tộc Callidiopini chiếm 5,79% và tộc Molorchini chiếm 4,28%. Phân tích đặc điểm phân bố của các loài Xén tóc Cerambycinae ở Việt Nam theo các vùng địa lý tự nhiên, vùng Đông Bắc có số lượng loài cao nhất, chiếm đến 64,05% tổng số loài. Các vùng tiếp theo lần lượt là: vùng Nam Trường Sơn chiếm 25,32%; vùng Tây Bắc chiếm 24,30%; vùng Tây Nguyên chiếm 24,30%; miền Nam Việt Nam chiếm 12,41% và vùng Bắc Trường Sơn chiếm 11,39%. Về mức độ tương đồng, thành phần loài Xén tóc thường tại vùng Đông Bắc có độ tương đồng với vùng Tây Bắc nhất. Khu vực Nam Trường Sơn có thành phần loài Xén tóc thường tương đồng nhất so với vùng Tây Nguyên Thành phần loài Xén tóc thường tại khu vực Tây Nguyên có mức độ tương đồng cao so với miền Nam Việt Nam.
  • Đánh giá chất lượng môi trường nước mặt tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh năm 2018

    Đánh giá chất lượng môi trường nước mặt tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh năm 2018

    Nghiên cứu đánh giá chất lượng môi trường nước mặt huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh được thực hiện tại 17 vị trí lấy mẫu nước mặt trên sông Cà Lồ, sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê và một số ao, hồ huyện Yên Phong vào mùa mưa và mùa khô năm 2019. Kết quả cho thấy: Chất lượng nước sông Cầu bị ảnh hưởng nhiều bởi hoạt động sản xuất làng nghề. Nước mặt sông Ngũ Huyện Khê có dấu hiệu của sự ô nhiễm các chỉ tiêu như: BOD5; COD; Amoni; Nitrit; Photphat.. Nước sông Cà Lồ tương đối sạch mặt khác sông không tiếp nhận nguồn thải từ hoạt động sản xuất làng nghề và CCN cũng như KCN của địa bàn. Chất lượng nước mặt ao hồ trong khu vực có dấu hiệu ô nhiễm bởi các chỉ tiêu như BOD5; COD; Pb; Fe; NH4+; PO43- vượt quá giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT.
  • Quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy góp phần bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

    Quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy góp phần bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay

    Công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) trong những năm qua ở nước ta đã có những tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên, hậu quả của các vụ cháy, nổ làm chết người, gây thiệt hại nặng nề về vật chất và đặc biệt là làm ô nhiễm môi trường thì ngày càng nghiêm trọng. Điều đó, đòi hỏi công tác QLNN về PCCN cần phải tiếp tục được tăng cường.
  • Nghiên cứu khoa học trên vùng biển Việt Nam phải tuân thủ tính đặc thù trong khai thác

    Nghiên cứu khoa học trên vùng biển Việt Nam phải tuân thủ tính đặc thù trong khai thác

    Việc khuyến khích các quốc gia, các tổ chức quốc tế NCKH trong vùng biển của Việt Nam trong bối cảnh nguồn lực cho hoạt động NCKH hạn hẹp như hiện nay là hướng đi phù hợp giúp Viêt Nam tận dụng nguồn lực quốc tế, phát triển kinh tế biển, đảo. Tuy nhiên, việc nghiên cứu này là một hoạt động có điều kiện, phải được sự cho phép của các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam, đặc biệt, tuân thủ Luật Biển Việt Nam và Luật TN,MT biển và hải đảo.
  • Quảng Nam: Lo ngại xảy ra sự cố môi trường do dự án xử lý CTR chậm tiến độ

    Quảng Nam: Lo ngại xảy ra sự cố môi trường do dự án xử lý CTR chậm tiến độ

    Nhiều bãi rác tại Quảng Nam đang rơi vào tình trạng xuống cấp và quá tải, dẫn đến các sự cố môi trường. Trong khi đó, các dự án xử lý chất thải rắn theo công nghệ hiện đại lại chậm tiến độ đang ảnh hưởng đến việc thu gom, xử lý rác thải của địa phương.
  • Ảnh hưởng của pH trong nước sông Đồng Nai đến độc tính của Niken lên Daphnia carinata và Daphnia lumholtzi

    Ảnh hưởng của pH trong nước sông Đồng Nai đến độc tính của Niken lên Daphnia carinata và Daphnia lumholtzi

    Đặc điểm của môi trường nước như pH, nhiệt độ, độ kiềm, độ cứng, DOC… ảnh hưởng rất lớn đến độc tính của kim loại nặng lên sinh vật thủy sinh. Trong đó pH là yếu tố rất quan trọng, nó làm thay đổi rõ ràng độc tính của kim loại lên sinh vật thủy sinh. Kết quả thí nghiệm trên mẫu nước sông Đồng Nai thuộc đề tài số 2015.04.23 của Bộ TN&MT cho thấy, đối với Daphnia carinata khi pH của nước sông Đồng Nai tăng từ 5,9 đến 7,1 thì LC50-Ni tăng từ 364 µg/L lên 432 µg/L. Đối với Daphnia lumholtzi khi pH của nước sông Đồng Nai tăng từ 6 đến 8,1 thì LC50-Ni tăng từ 45 µg/L lên 204 µg/L.
  • Đánh giá rủi ro của nước thải từ trạm xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp Việt Hương 2 tỉnh Bình Dương đối với nguồn tiếp nhận và đề xuất giải pháp giảm thiểu

    Đánh giá rủi ro của nước thải từ trạm xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp Việt Hương 2 tỉnh Bình Dương đối với nguồn tiếp nhận và đề xuất giải pháp giảm thiểu

    Nghiên cứu đánh giá rủi ro môi trường của hệ thống xử lý nước thải (XLNT) KCN (KCN) tập trung Việt Hương 2 trên địa bàn tỉnh Bình Dương và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả dựa trên cơ sở các dữ liệu được thu thập, phân tích, đánh giá về chất lượng nguồn nước mặt, chất lượng nước thải sau xử lý, mức độ xả thải của các nhà máy trong KCN từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giảm thiểu đang ngày càng cấp bách và là cơ sở để cơ quan quản lý giám sát, định hướng các ngành nghề nào cần tiếp nhận vào KCN trong tương lai. Từ cơ cở phân tích chât lượng nước nguồn tiêp nhận sẽ xác định trách nhiệm của các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý có liên quan trong công tác quản lý nước thải qua đố đề xuất giải pháp phòng ngừa, khắc phục và giảm thiểu các sự cố môi trường do hoạt động xả nước thải từ KCN tập trung Việt Hương 2.
  • Thực trạng khai thác nguồn thu tài chính từ đất đai tại huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên

    Thực trạng khai thác nguồn thu tài chính từ đất đai tại huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên

    Huyện Tây Hòa là huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Phú Yên, cách thành phố Tuy Hòa khoảng 20 km về phía Đông, có Quốc lộ 29, tỉnh lộ ĐT645 chạy qua. Tây Hòa cũng nằm gần Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam, sân bay Tuy Hòa và cảng Vũng Rô - là các đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh có tiềm năng rất lớn trong việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước trong tương lai. Vào những năm gần đây, ảnh hưởng sức nóng của thị trường bất động sản trong nước nói chung và của huyện Tây Hòa nói riêng đã tác động trực tiếp đến nhu cầu thực hiện các quyền của người sử dụng đất, do đó góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách từ đất đai. Xuất phát từ các vấn đề thực tế nêu trên, nghiên cứu này được tiến hành với mục đích chính là đánh giá thực trạng khai thác nguồn thu tài chính từ đất đai để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thu tài chính từ đất đai tại địa phương.
  • Tích tụ, tập trung đất đai và những trao đổi để hướng đến một nền nông nghiệp hiện đại

    Tích tụ, tập trung đất đai và những trao đổi để hướng đến một nền nông nghiệp hiện đại

    Những năm gần đây, nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển lớn, bảo đảm an ninh lương thực, góp phần ổn định KT-XH. Tuy nhiên, để trở thành một nền nông nghiệp hiện đại còn nhiều việc phải làm, trước hết là tư duy phát triển phải phù hợp với quy luật kinh tế thị trường; tổ chức sản xuất, ứng dụng KH&CN, khắc phục tình trạng nhỏ lẻ, manh mún, tự phát... bằng tích tụ và tập trung đất đai, kết nối chặt chẽ hộ nông dân với doanh nghiệp, nâng cao năng lực nội sinh, khả năng thích nghi và ứng phó với thị trường có nhiều biến động.
  • Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý, xử lý bùn thải phát sinh từ các hệ thống xử lý nước thải ở các KCN miền Đông Nam Bộ

    Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý, xử lý bùn thải phát sinh từ các hệ thống xử lý nước thải ở các KCN miền Đông Nam Bộ

    Vùng Đông Nam Bộ là vùng có số lượng Khu công nghiệp (KCN) được thành lập nhiều nhất với 123 KCN (chiếm 47,6% cả nước), tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng với 83 KCN (chiếm 32,2% cả nước) và vùng Tây Nam Bộ với 52 KCN (chiếm 20,2% cả nước) (1).
  • Yên Minh (Hà Giang) phát triển du dịch địa chất gắn với bảo vệ môi trường

    Yên Minh (Hà Giang) phát triển du dịch địa chất gắn với bảo vệ môi trường

    Để khai thác tiềm năng du lịch sẵn có, huyện Yên Minh (tỉnh Hà Giang) đang thúc đẩy phát triển du lịch địa chất, đem lại lợi ích phát triển kinh tế bền vững cho người dân bản địa; bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái, đồng thời bảo tồn và phát huy những nét văn hoá truyền thống độc đáo các dân tộc mà không gây tác động xấu đến thế hệ tương lai và cộng đồng.
  • Kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam

    Kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam

    Đường bờ biển của Việt Nam dài với 2.360 dòng sông (chỉ tính các dòng sông có chiều dài trên 10 km) và 114 cửa sông và 13 lưu vực sông, thì với lượng nước thải, chất thải không được thu gom và xử lý từ các hoạt động từ đất liền thì rất dễ bị trôi theo các dòng sông ra biển. Ô nhiễm môi trường (ONMT) biển từ đất liền ở Việt Nam bị đe doạ từ rất nhiều nguồn khác nhau như rác thải từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, chăn nuôi, y tế, sinh hoạt của con người… Các nguồn ô nhiễm này theo sông ra biển hoặc từ các hoạt động ở vùng đất ven biển và chủ yếu là nước thải và rác thải, trong đó chủ yếu là rác thải nhựa. Vậy, để kiểm soát hiệu quả ONMT biển đang là bài toán rất nan giải.