Thành lập Hội đồng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường

Thành lập Hội đồng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường

11/08/2026
Ngày 16/12, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng đã ký Quyết định số 5306/QĐ-BNNMT về việc thành lập Hội đồng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường. Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường được 9 Hội đồng Giáo sư Nhà nước tính điểm, trong đó có 4 Hội đồng tính điểm tối đa 1 điểm khoa học (Nông nghiệp - Lâm nghiệp; Thủy lợi; Hóa học - Công nghệ thực phẩm; Chăn nuôi - Thú y - Thủy sản).
  • Bảo tồn nguồn gen giữa thời đại dữ liệu lớn: Góc nhìn của TS. Phạm Hùng Cương

    Bảo tồn nguồn gen giữa thời đại dữ liệu lớn: Góc nhìn của TS. Phạm Hùng Cương

    Giữa kỷ nguyên dữ liệu - khi “big data” được xem là “dầu mỏ mới” - công tác bảo tồn nguồn gen thực vật tại Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc. Với hàng chục nghìn mẫu nguồn gen cây trồng cần được lưu giữ, đánh giá, số hóa và khai thác, bảo tồn ngày nay không còn dừng lại ở việc “giữ giống”, mà đòi hỏi cách tiếp cận dựa trên dữ liệu, công nghệ và tầm nhìn dài hạn. Trong cuộc phỏng vấn chuyên đề dưới đây, TS. Phạm Hùng Cương - Phó Giám đốc Trung tâm Tài nguyên thực vật (PRC) - chia sẻ những góc nhìn từ thực tiễn quản lý một trong những “kho tài sản di truyền” quan trọng của quốc gia, đồng thời phân tích cơ hội, thách thức và định hướng phát triển để biến nguồn gen cây trồng thành tài sản sống, phục vụ nông nghiệp hiện đại và bền vững..
  • Ô nhiễm dầu khó nhận biết và đề xuất giải pháp quản lý

    Ô nhiễm dầu khó nhận biết và đề xuất giải pháp quản lý

    Ô nhiễm dầu không chỉ xuất hiện qua những vệt loang dễ thấy, mà còn tồn tại ở dạng “vô hình” – hòa tan, khuếch tán và lắng sâu trong nước, đất, âm thầm gây hại hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu thực hiện tại Quảng Ninh cho thấy 100% mẫu nước đều vượt quy chuẩn, nhiều vị trí cao gấp 3–5 lần mức cho phép, phản ánh khoảng trống lớn trong quản lý, giám sát và ứng phó dầu khó nhận biết. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất loạt giải pháp kỹ thuật và thể chế nhằm kiểm soát dạng ô nhiễm đặc thù nhưng đang bị bỏ ngỏ này.
  • 20 năm bền bỉ với núi đồi – Kiến tạo nền nông nghiệp sinh thái miền núi phía Bắc

    20 năm bền bỉ với núi đồi – Kiến tạo nền nông nghiệp sinh thái miền núi phía Bắc

    Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (Viện) được thành lập ngày 05/12/2005. Nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập (2005–2025), phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS. Lưu Ngọc Quyến – Viện trưởng. Hai thập kỷ qua, từ những phòng thí nghiệm chuyên sâu đến các vùng nguyên liệu trải rộng trên khắp miền núi phía Bắc, Viện đã tạo dấu ấn bằng nhiều công trình nghiên cứu giá trị, các giống cây trồng mới và những mô hình chuyển giao kỹ thuật hiệu quả. Trong cuộc trò chuyện, TS. Quyến chia sẻ những thành tựu nổi bật, các khó khăn đặc thù, cũng như định hướng chiến lược cho phát triển nông, lâm nghiệp miền núi phía Bắc trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
  • Ứng dụng công nghệ IoT giám sát chất lượng nước nuôi trồng thủy sản

    Ứng dụng công nghệ IoT giám sát chất lượng nước nuôi trồng thủy sản

    Chất lượng môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản là một trong những yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm thủy sản. Từ nghiên cứu của các kỹ sư Việt Nam, hệ thống quan trắc tự động môi trường nước ra đời, giúp người nuôi có thể kiểm soát chặt chẽ điều kiện nước, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
  • PGS, TS. Phạm Anh Tuấn: Công nghệ nâng tầm chè Shan Tuyết

    PGS, TS. Phạm Anh Tuấn: Công nghệ nâng tầm chè Shan Tuyết

    Tại Hội thảo "Phát triển và nâng tầm giá trị trà Shan Tuyết" do Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ở Lào Cai, PGS, TS. Phạm Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã nhấn mạnh rằng tương lai của chè Shan Tuyết không chỉ nằm ở vùng nguyên liệu đặc hữu, mà còn ở việc ứng dụng khoa học – công nghệ mở đường cho một hệ sinh thái sản phẩm mới, đa dạng và bền vững hơn.
  • Đánh giá hiện trạng các yếu tố môi trường vùng biển ven bờ tỉnh Gia Lai phục vụ công tác dự báo ngư trường

    Đánh giá hiện trạng các yếu tố môi trường vùng biển ven bờ tỉnh Gia Lai phục vụ công tác dự báo ngư trường

    Vùng biển ven bờ tỉnh Gia Lai, nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ thống gió mùa và các quá trình hải dương học của Biển Đông, đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển nghề khai thác thủy sản và bảo vệ nguồn lợi biển. Nghiên cứu này đánh giá các yếu tố môi trường chủ yếu như nhiệt độ, độ muối, hàm lượng chlorophyll-a, và độ đục nước biển trong suốt hai mùa gió Đông Bắc và Tây Nam. Các kết quả thu được cho thấy sự phân hóa rõ rệt của các yếu tố này theo không gian và thời gian, phản ánh đặc điểm động lực học phức tạp của khu vực. Nghiên cứu cung cấp những dữ liệu quan trọng, không chỉ góp phần vào việc hiểu biết về môi trường biển Gia Lai mà còn hỗ trợ công tác dự báo ngư trường và phát triển kinh tế biển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thay đổi các yếu tố hải dương học.
  • Khi nông dân làm chủ “công nghệ” xanh

    Khi nông dân làm chủ “công nghệ” xanh

    Ở Vĩnh Long, giữa những ruộng lúa đang vào vụ mới, người ta đã bắt đầu quen với hình ảnh những người nông dân xịt vi sinh bằng dáng vẻ tự tin đến lạ, đây là sự tự tin của những người từng hoài nghi, từng lúng túng, từng nghĩ rằng “đốt đồng vẫn nhanh nhất”, nhưng rồi lại chính họ trở thành những người tiên phong của mô hình nông nghiệp xanh, nhờ dự án hỗ trợ của GAHP (Liên minh toàn cầu về sức khoẻ và ô nhiễm), dưới sự tài trợ của Chính phủ Vương quốc Anh thông qua Bộ Môi trường, Thực phẩm và Nông thôn (Defra), phối hợp cùng Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam và Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.
  • Bác sĩ Nguyễn Công Hân: Ứng dụng khoa học đánh thức di sản Trà Shan Tuyết ngàn năm

    Bác sĩ Nguyễn Công Hân: Ứng dụng khoa học đánh thức di sản Trà Shan Tuyết ngàn năm

    Tham luận của Bác sĩ Nguyễn Công Hân, người sáng lập Dragon Tea Suối Giàng, tại hội thảo "Phát triển và nâng tầm giá trị trà Shan Tuyết” do Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã mở ra góc nhìn đầy thuyết phục về giá trị khoa học và ứng dụng công nghệ để phát triển của loại trà đặc hữu này.
  • Đề xuất lộ trình để ứng dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất dạng điện tử

    Đề xuất lộ trình để ứng dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất dạng điện tử

    Trong bối cảnh Luật Đất đai 2024 mở ra hành lang pháp lý mới cho chuyển đổi số, việc thay thế Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bằng dữ liệu điện tử trở thành yêu cầu cấp thiết của quản trị hiện đại. Dựa trên phân tích toàn diện cơ sở pháp lý, hạ tầng kỹ thuật và thực tiễn triển khai tại các địa phương, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn để ứng dụng GCN điện tử trên phạm vi toàn quốc. Lộ trình này không chỉ hướng tới tinh gọn thủ tục, giảm chi phí xã hội mà còn tạo bước chuyển quan trọng trong minh bạch hóa thông tin đất đai, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp.
  • Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Kiên quyết siết kỷ luật tiến độ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo

    Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Kiên quyết siết kỷ luật tiến độ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo

    Trong khuôn khổ Phiên họp lần thứ năm của Ban Chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phóng viên Tạp chí trân trọng giới thiệu hai ý kiến chỉ đạo quan trọng của Thứ trưởng Phùng Đức Tiến và TS. Vũ Văn Long - Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ. Những quan điểm này nhấn mạnh yêu cầu tăng tốc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, siết chặt kỷ luật tiến độ, thúc đẩy khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và kiên quyết bảo đảm hoàn thành toàn bộ 187 nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2025.
  • Kỳ 3: Ruộng lúa thông minh - khi IOT và AI về làng

    Kỳ 3: Ruộng lúa thông minh - khi IOT và AI về làng

    Trên những cánh đồng lúa truyền thống của Việt Nam, nơi từng quen với tiếng bơm nước, tiếng gà gáy sớm và nhịp cày của người nông dân, nay đã xuất hiện những thiết bị cảm biến, trạm khí tượng tự động và hệ thống điều khiển tưới từ xa. Đó không chỉ là sự thay đổi về công cụ, mà là cuộc cách mạng số trong nông nghiệp, khi Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) đang giúp cây lúa “lớn lên bằng dữ liệu”, biết “thở” theo quy trình tưới tiết kiệm nước, giảm phát thải khí mê-tan và thích ứng khí hậu. Từ mô hình thí điểm ở Bắc Ninh đến những cánh đồng mênh mông vùng đồng bằng sông Cửu Long, “ruộng lúa thông minh” đang mở ra một thời kỳ mới cho hạt gạo Việt Nam, thời kỳ của nông nghiệp xanh, hiện đại và phát triển bền vững.
  • TS. Phạm Hùng Cương: Nghiên cứu tính chịu hạn của 50 giống lúa địa phương và ứng dụng trong chọn giống lúa bền vững

    TS. Phạm Hùng Cương: Nghiên cứu tính chịu hạn của 50 giống lúa địa phương và ứng dụng trong chọn giống lúa bền vững

    Biến đổi khí hậu đang gia tăng mức độ và tần suất hạn hán tại các vùng sản xuất lúa ở Việt Nam, khiến nông dân gặp khó khăn trong việc duy trì năng suất lúa ổn định. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và khai thác các nguồn gen lúa địa phương có khả năng chịu hạn là một trong những giải pháp quan trọng. Nhằm đánh giá đa dạng di truyền và xác định các giống lúa chịu hạn, TS. Phạm Hùng Cương - Phó Giám đốc Trung tâm Tài nguyên thực vật, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cùng nhóm nghiên cứu đã thực hiện một nghiên cứu sâu rộng về 50 giống lúa địa phương lưu giữ tại Ngân hàng gen thực vật quốc gia. Bài phỏng vấn dưới đây với TS. Phạm Hùng Cương sẽ giúp độc giả hiểu rõ hơn về kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của nó trong chọn tạo giống lúa chịu hạn.
  • Cần đẩy mạnh số hóa trong vận hành, đảm bảo an toàn đập, hồ chứa

    Cần đẩy mạnh số hóa trong vận hành, đảm bảo an toàn đập, hồ chứa

    Chiều 21/11/2025 tại Hà Nội, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi phối hợp Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Diễn đàn “Chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong vận hành, bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước”.
  • Sử dụng tro xỉ thải và các nguồn chất thải làm nguyên liệu sản xuất gạch tuynel theo mô hình kinh tế tuần hoàn

    Sử dụng tro xỉ thải và các nguồn chất thải làm nguyên liệu sản xuất gạch tuynel theo mô hình kinh tế tuần hoàn

    Trong tro xỉ thải ra, được tách riêng thành 2 loại: Tro bay theo đường khói, được thu hồi lại qua lọc bụi tĩnh điện trước khi thải ra ngoài trời qua ống khói và Xỉ thải ra ở đáy buồng đốt lò hơi. Thành phần hóa học của tro xỉ là các oxyt axit (SiO2, Al2O3, TiO2) chiếm tỷ lệ chủ yếu, các oxyt kiềm (CaO, MgO, K2O) chiếm tỷ lệ nhỏ. Xỉ nhiệt điện hay tro bay có chứa nhiều silic và có thể sinh nhiệt từ 800 - 1.200 kcal/kg nên có thể tái sử dụng làm phối liệu cho sản xuất gạch tuynel.
  • Sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản đất đồi làm nguyên liệu sản xuất gạch tuynel bằng công nghệ mới

    Sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản đất đồi làm nguyên liệu sản xuất gạch tuynel bằng công nghệ mới

    Gạch tuynel hay còn gọi là gạch đất nung là một loại gốm thô đã được sản xuất từ rất lâu đời, cho đến nay gạch tuynel vẫn được ưa chuộng bởi những đặc điểm ưu việt về chất lượng và thẩm mỹ trong xây dựng. Cùng với sự phát triển chung của ngành vật liệu xây dựng đã có nhiều công nghệ mới, nhiều vật liệu mới, tuy nhiên gạch đất nung vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng trong các công trình đặc biệt là các công trình dân sinh. Hiện nay, gạch tuynel đã áp dụng nhiều công nghệ sản xuất hiện đại có thể sử dụng được các nguyên liệu là chất thải của một số ngành công nghiệp khác như: sử dụng xỉ nhiệt điện, tro bay, xít than, chất thải của các mỏ đất, chất thải tái chế, vật liệu đổ thải của công trình xây dựng,… Ngoài ra bằng công nghệ nung lò tuynel và lò xoay đã giúp cho việc nâng công xuất, tăng chất lượng, giảm ô nhiễm môi trường.
  • PGS, TS. Phạm Thị Thanh Ngà: Kiến nghị giải pháp đột phá KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến 2030

    PGS, TS. Phạm Thị Thanh Ngà: Kiến nghị giải pháp đột phá KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến 2030

    PGS, TS. Phạm Thị Thanh Ngà, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu cho rằng, để thúc đẩy đột phá khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, môi trường, cần phát triển hạ tầng công nghệ hiện đại, cơ chế thí điểm công nghệ mới, ưu đãi tài chính và nhân lực chất lượng cao để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và ứng dụng AI.
  • AI sẽ giúp nông dân chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp xanh - bền vững

    AI sẽ giúp nông dân chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp xanh - bền vững

    Trí tuệ nhân tạo (AI) được kỳ vọng là giải pháp đột phá giúp nông dân, doanh nghiệp dự báo được biến đổi khí hậu, cũng như dự đoán vụ mùa từ việc trồng trọt, thu hoạch… cho tới việc bán sản phẩm, giá cả, kiểm soát chất lượng nông sản.