Ngày 9.10 tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với 8 hiệp hội ngành hàng trong lĩnh vực nông nghiệp tổ chức Hội thảo “Tháo gỡ vướng mắc về chính sách thuế giá trị gia tăng với ngành nông, lâm, thủy sản”.
Theo phản ánh của các hiệp hội ngành hàng, một số quy định trong Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) số 48/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, vẫn bộc lộ nhiều bất cập, chưa thật sự phù hợp với đặc thù sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản. Những vướng mắc chính tập trung vào việc xác định đối tượng chịu thuế, mức thuế suất áp dụng và quy trình hoàn thuế, gây lo ngại về khả năng phát sinh khó khăn cho doanh nghiệp và người sản xuất.
Hội thảo là diễn đàn để các đại biểu lắng nghe, trao đổi, phân tích và đề xuất các giải pháp phù hợp, vừa đảm bảo mục tiêu tăng cường quản lý nhà nước về thuế, vừa duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo mục tiêu tăng trưởng mà Chính phủ đã đề raPhát biểu khai mạc, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI cho biết: "chính sách thuế nếu không phù hợp với đặc thù sản xuất – kinh doanh của ngành nông nghiệp sẽ trở thành rào cản lớn, làm suy giảm năng lực cạnh tranh, ảnh hưởng đến dòng tiền, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và khiến doanh nghiệp rơi vào thế bị động trong bối cảnh hội nhập sâu rộng."Ông Ngô Sỹ Hoài, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) chỉ ra cần có hướng dẫn cụ thể về định nghĩa "gỗ sơ chế thông thường".Ông Nguyễn Tấn Hiên, Phó Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam nhấn mạnh, quy trình hoàn thuế kéo dài và quy định giới hạn không vượt quá 10% doanh thu được đánh giá là chưa phù hợp với đặc thù mùa vụ, ảnh hưởng đến tính thanh khoản và năng lực cạnh tranh của ngành hồ tiêu.Bà Đỗ Kim Chi, đại diện Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi, phản ánh tình trạng một số địa phương vẫn áp thuế suất 5% đối với nguyên liệu dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi, dù Luật GTGT đã quy định rõ đây là đối tượng không chịu thuế.Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, cùng là sản phẩm thủy sản nuôi trồng hoặc đánh bắt chưa qua chế biến sâu, nhưng doanh nghiệp lại đang phải áp dụng hai mức thuế suất khác nhau – một mặt thuộc diện không chịu thuế (khoản 1, Điều 5), mặt khác lại bị áp thuế suất 5% (điểm d, khoản 2, Điều 9).Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cho rằng một chính sách thuế được thiết kế hợp lý sẽ thúc đẩy đầu tư, mở rộng thị trường và nâng cao ý thức tuân thủ. Ngược lại, nếu thiếu minh bạch hoặc điều tiết chưa phù hợp, chính sách có thể gây khó cho doanh nghiệp.Bà Nguyễn Minh Thảo, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Bộ Tài chính), đề xuất các ngành hàng cần cung cấp thông tin cụ thể về những thiệt hại và lợi ích khi áp dụng Luật Thuế giá trị gia tăng, để VCCI tổng hợp, kiến nghị Chính phủ và các cơ quan chức năng xem xét, tháo gỡ các vướng mắc.Ông Trần Quốc Khánh - Thường trực Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ đưa ra một số hướng giải quyết hợp lý cho các doanh nghiệp, ngành hàng, góp phần giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu, kinh tế năm 2025.Phát biểu kết luận, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI khẳng định VCCI sẽ tổng hợp toàn bộ ý kiến, kiến nghị tại hội thảo để gửi tới các cơ quan chức năng, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ rào cản, cải thiện môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Hội thảo khép lại với kỳ vọng tạo ra cơ sở quan trọng để hoàn thiện chính sách thuế giá trị gia tăng theo hướng công bằng, minh bạch và ổn định, góp phần thúc đẩy sản xuất - kinh doanh phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp, đồng thời bảo đảm nguồn thu ngân sách bền vững cho Nhà nước.
Văn bản hợp nhất số 81/2026/VBHN-TT-BNNMT hệ thống các quy định về đăng kiểm viên, an toàn kỹ thuật, đăng ký, nhập khẩu tàu cá, đánh dấu tàu và phân loại, công bố mở, đóng cảng cá.
Văn bản hợp nhất số 80/2026/VBHN-TT-BNNMT hệ thống đầy đủ quy định về nhật ký khai thác, kiểm tra tàu cá, giám sát sản lượng tại cảng, quản lý tàu cá vi phạm IUU và chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác.
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP tháo gỡ nhiều vướng mắc trong cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, phân quyền mạnh hơn cho cấp xã và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Song với sầu riêng xuất khẩu, thủ tục thuận lợi hơn cũng đồng nghĩa trách nhiệm của người sản xuất, doanh nghiệp và cơ quan quản lý phải rõ hơn. Mã số chỉ có giá trị khi gắn với vùng trồng thực, sản lượng thực và có thể truy xuất đến từng lô hàng.
Biển có thể mở ra những không gian phát triển mới, nhưng sức chịu tải của biển không phải là vô hạn. Từ quyền tiếp cận biển của người dân, sự tham gia của cộng đồng đến kiểm soát nguồn thải, phục hồi môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học ngoài vùng biển quốc gia, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cho thấy một yêu cầu xuyên suốt: phát triển kinh tế biển phải đi cùng trách nhiệm bảo vệ môi trường và sinh kế lâu dài.
Sau 10 năm thi hành, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo nền tảng quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các ngành kinh tế mới cùng nhu cầu sử dụng biển ngày càng đa dạng đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức quản lý. Dự thảo Luật lần này hướng đến bước chuyển đáng chú ý: quản lý tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia trên cơ sở quy hoạch, dữ liệu, khoa học, công nghệ và sự phối hợp giữa các ngành, địa phương.