news
Canh tác lúa phát thải thấp: Hướng đi cho tăng trưởng xanh

Canh tác lúa phát thải thấp: Hướng đi cho tăng trưởng xanh

Thứ bảy, 26/9/2026, 16:52 (GMT+7)
logo Trước yêu cầu giảm phát thải trong sản xuất nông nghiệp, canh tác lúa theo hướng tiết kiệm nước, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và quản lý tốt rơm rạ,... đang được nhiều địa phương triển khai với kỳ vọng vừa giảm tác động môi trường, vừa nâng cao hiệu quả và giá trị sản xuất lúa.

Chuyển đổi canh tác lúa phát thải thấp đang được triển khai ngày càng rõ nét

Vừa qua, tại tỉnh Nghệ An, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An tổ chức Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”.

Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh” được tổ chức tại Nghệ An. Ảnh: Bùi Ánh
Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh” được tổ chức tại Nghệ An. Ảnh: Bùi Ánh

Trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi, yêu cầu đối với sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng ở việc bảo đảm năng suất mà còn phải chú trọng đến bảo vệ môi trường và giảm phát thải. Diễn đàn “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh” được tổ chức nhằm góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong sản xuất. Đồng thời, đây cũng là dịp để các nhà quản lý, nhà khoa học, nông dân và doanh nghiệp trao đổi về những kết quả, kinh nghiệm sau quá trình triển khai thực tế.

Tại diễn đàn, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đánh giá, môi trường đang chịu nhiều áp lực. Đối với sản xuất lúa, khi ruộng ở trong điều kiện ngập nước, quá trình phân hủy chất hữu cơ trong môi trường thiếu khí sẽ phát sinh các chất gây ô nhiễm. Trong khi đó, việc áp dụng các giải pháp để giảm phát thải không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Từ các nghiên cứu, ông Lê Quốc Thanh cho rằng ngành lúa gạo vẫn còn nhiều dư địa để giảm phát thải. Đồng thời, có thể áp dụng nhiều giải pháp để cây trồng vẫn đạt năng suất, nhưng giảm được lượng phát thải trong quá trình sản xuất.

dien-dan-ong-le-quoc-thanh_1790080403.jpg
Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: Bùi Ánh

Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, năm 2025, cả nước gieo trồng khoảng 7,13 triệu ha lúa, năng suất bình quân 61,1 tạ/ha, sản lượng khoảng 43,5 triệu tấn. Với quy mô sản xuất lớn, đây vừa là lợi thế, vừa đặt ra yêu cầu sử dụng hiệu quả hơn nước tưới, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; đồng thời giảm thất thoát sau thu hoạch và giảm phát thải khí nhà kính.

Nhiều ý kiến được đưa ra trong Diễn đàn thông qua các tham luận, góp phần cung cấp thêm những góc nhìn sát với thực tiễn sản xuất. Qua đó, ngành trồng trọt có cơ sở để nghiên cứu, điều chỉnh các giải pháp phù hợp với mô hình canh tác lúa theo hướng thân thiện với môi trường.

Với tham luận “Báo cáo đề dẫn giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”, Tiến sĩ Phạm Thanh Thủy, chuyên viên Phòng Khuyến nông Trồng trọt và Lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng: Trong sản xuất lúa, phát thải chủ yếu liên quan đến chế độ ngập nước trên ruộng, sử dụng phân bón và quản lý rơm rạ sau thu hoạch.

Vì vậy, canh tác lúa phát thải thấp không phải là một kỹ thuật riêng lẻ mà là sự kết hợp đồng bộ giữa quản lý nước, sử dụng đầu vào hợp lý, cơ giới hóa, quản lý phụ phẩm, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ. Yêu cầu đặt ra là các giải pháp giảm phát thải phải đồng thời giúp người dân giảm chi phí, duy trì hoặc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế thì mới có khả năng duy trì và nhân rộng.

dien-dan-ba-thanh-thuy-cuc-trong-trot_1790080547.jpg
Tiến sĩ Phạm Thanh Thủy, chuyên viên Phòng Khuyến nông Trồng trọt và Lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia trình bày tham luận “Báo cáo đề dẫn giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”. Ảnh: Bùi Ánh

Thực tế những năm gần đây, nhiều chương trình, dự án và mô hình sản xuất lúa theo hướng tiết kiệm đầu vào, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải đã được triển khai tại các vùng sản xuất lúa. Điển hình là các biện pháp giảm lượng giống gieo sạ, “1 phải 5 giảm”, “3 giảm 3 tăng”, tưới ướt - khô xen kẽ (AWD), bón phân cân đối, quản lý dịch hại tổng hợp, quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp, cơ giới hóa và thu gom rơm rạ. Đây là những nền tảng kỹ thuật cho quá trình chuyển đổi phương thức canh tác.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh đang tạo ra cách tiếp cận mới, với việc tổ chức vùng nguyên liệu, áp dụng quy trình kỹ thuật đồng bộ, tăng vai trò của hợp tác xã, liên kết doanh nghiệp và từng bước chuẩn hóa dữ liệu sản xuất.

Kinh nghiệm này cho thấy, giảm phát thải chỉ có thể đi vào thực chất khi gắn với tổ chức lại sản xuất và lợi ích kinh tế của nông dân. Một số địa phương có quy mô triển khai lớn gồm An Giang 159.667 ha, Đồng Tháp 97.053 ha, Cần Thơ 76.000 ha và Tây Ninh 69.390 ha. Bên cạnh đó, Vĩnh Long 13.703 ha và Cà Mau 5.000 ha đang tiếp tục hoàn thiện và nhân rộng các mô hình, tạo nền tảng để mở rộng diện tích và nâng cao chất lượng triển khai Đề án trong giai đoạn tiếp theo.

Kết quả bước đầu tại các mô hình cho thấy, việc áp dụng quy trình canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp giúp giảm đầu vào, đồng thời duy trì hoặc nâng cao năng suất, lợi nhuận. So với phương thức canh tác thông thường, lượng giống gieo sạ giảm khoảng 30 - 50%, phân bón hóa học giảm 20 - 30%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 2 - 3 lần/vụ và lượng nước tưới giảm 20 - 40%. Năng suất tăng khoảng 5 - 12%, lợi nhuận tăng khoảng 1,5 - 9,3 triệu đồng/ha/vụ. Kết quả đo đạc bước đầu tại các mô hình ghi nhận mức giảm phát thải bình quân khoảng 3 - 4 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ. Mức giảm cụ thể thay đổi theo điều kiện sinh thái, mùa vụ và mức độ áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật.

1790085015546_1553437223995221298_883958741651486456_1524eefc2ea856a0aafcf861fc5bd9d9_1790086979.jpg
Gạo thảo dược Vĩnh Hòa đạt chuẩn OCOP 3 sao áp dụng canh tác sản xuất giảm phát thải. Ảnh: Bùi Ánh

Ở khu vực Bắc Trung Bộ, các địa phương đã chủ động tiếp cận và mở rộng kỹ thuật AWD phù hợp với điều kiện sản xuất. Theo tổng hợp của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ, trong giai đoạn 2024 - 2026, các mô hình và vùng áp dụng AWD tại Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Quảng Trị đạt tổng lũy kế khoảng 159.273 ha qua các vụ, với trên 254 nghìn hộ tham gia. Kết quả này cho thấy kỹ thuật đã chuyển từ quy mô thí điểm sang áp dụng trên diện tích lớn tại nhiều địa phương.

Nghệ An là địa phương có nhiều điểm đáng ghi nhận trong canh tác giảm phát thải. Ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đã chủ động triển khai các giải pháp bảo đảm phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, khó lường; đồng thời đẩy mạnh áp dụng các giải pháp sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng lưu giữ, giảm phát thải trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản, góp phần hướng tới mục tiêu trung hòa carbon trong nông nghiệp.

dien-dan-ba-vo-thi-nhung_1790080718.jpg
Bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An khẳng định Diễn đàn có ý nghĩa chiến lược và thực tiễn quan trọng. Ảnh: Bùi Ánh

Riêng đối với lĩnh vực trồng trọt và sản xuất lúa, Nghệ An có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khá lớn, với hơn 300.000 ha; trong đó diện tích đất trồng lúa duy trì hơn 90.000 ha, sản xuất 2 vụ lúa chính trong năm, cho sản lượng đạt trên 1,1 triệu tấn/năm. Do đó, cây lúa được xác định là cây trồng chủ lực của tỉnh và được tỉnh Nghệ An quan tâm đẩy mạnh phát triển. Tỉnh có nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất lúa gạo theo hướng tích tụ ruộng đất, sản xuất tập trung, ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ, công nghệ cao và sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng cao, bền vững.

Phát biểu tại diễn đàn, bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An nhấn mạnh: Nhận thức rõ về trách nhiệm trong thúc đầy tiến trình thực hiện mục tiêu trung hoà carbon và phát triền bền vững; đồng thời, kip thời nắm bắt cơ hội phát triền sản phầm phát thải thấp và định hướng phát triển thị trường carbon cùa Chính phủ, từ năm 2024 Sở NN&MT tỉnh Nghệ An đã phát huy vai trò tiên phong, năng động trong việc chủ động kết nối với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bân tại Việt Nam (Jica), Viện KHKT Nông nghiệp Bắc Trung bộ cùng với các doanh nghiệp tiên phong từ Nhật Bản (Công ty Green carbon) triển khai thực hiện dự án thí điềm Sản xuất lủa giảm phát thải áp dụng biện phát tưới ướt khô xen kẽ. Trên cơ sở ký kết Biên bản ghi nhớ (MOU) hợp tác, từ năm 2024 nay, Nghệ An đã tích cực triển khai Dự án trên địa bàn tỉnh và liên tục mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, cũng như tăng cường sự tham gia của các bên để dự án được triền khai đạt hiệu quả cao nhất; kết quả đến nay, diện tích sản xuất lúa giảm phát thải toàn tỉnh đã đạt gần 30.000 ha.

Nhiều giải pháp được đưa ra thảo luận 

Tham luận “Đề án và kế hoạch hành động triển khai Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050” của ông Hoàng Anh Tuấn, Phó Trưởng phòng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đã nêu 7 nhóm nhiệm vụ với 33 nội dung để triển khai Đề án.

dien-dan-ong-hoang-anh-tuan_1790080789.jpg
Ông Hoàng Anh Tuấn, Phó Trưởng phòng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đã nêu 7 nhóm nhiệm vụ với 33 nội dung để triển khai Đề án. Ảnh: Bùi Ánh

Cụ thể gồm: hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện Đề án; chuyển đổi cơ cấu cây trồng linh hoạt, phù hợp với đặc điểm từng vùng sinh thái và trình độ canh tác; phát triển, áp dụng các gói kỹ thuật trong sản xuất trồng trọt giảm phát thải; triển khai mô hình sản xuất trồng trọt giảm phát thải theo quy mô vùng và chuỗi giá trị; thiết lập, vận hành hệ thống đo lường - báo cáo - thẩm định (MRV) và cơ sở dữ liệu phát thải khí nhà kính; nâng cao năng lực, chuyển đổi nhận thức; kết nối thị trường cho các sản phẩm phát thải thấp.

Cùng đưa ra giải pháp bàn luận về canh tác giảm phát thải, bà Phạm Thanh Thủy cũng đưa ra 7 nhiệm vụ, giải pháp nhằm nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp, gồm: nhân rộng theo vùng sản xuất và theo gói kỹ thuật, không áp dụng riêng lẻ từng biện pháp; xác định quản lý nước là khâu trọng tâm trong giảm phát thải lúa; giảm lượng giống, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý; quản lý rơm rạ theo hướng tuần hoàn, tạo thêm giá trị; đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ gắn với dịch vụ sản xuất; tổ chức lại sản xuất, phát huy vai trò của hợp tác xã và tăng cường liên kết với doanh nghiệp; đổi mới phương thức khuyến nông đáp ứng yêu cầu nhân rộng.

Để các giải pháp được triển khai sâu rộng, công tác khuyến nông cần chuyển từ “tập huấn - xây dựng mô hình” sang “hướng dẫn - thực hành - theo dõi - đánh giá - nhân rộng”. Cán bộ kỹ thuật cần bám đồng ruộng ở những khâu quyết định, nhất là quản lý nước, dinh dưỡng và dịch hại; đồng thời hướng dẫn hợp tác xã, nông dân ghi chép các thông tin cơ bản về diện tích, giống, vật tư, nước tưới, năng suất, sản lượng và phụ phẩm.

Trong báo cáo Tham luận “Kinh nghiệm tổ chức sản xuất vùng nguyên liệu lúa theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm của ThaiBinh Seed, ông Đặng Cao Cường, Phó Tổng Giám đốc Sản xuất và Khoa học Công nghệ - Tập đoàn ThaiBinh Seed cho rằng: thực tiễn sản xuất hiện nay vẫn còn nhiều điểm nghẽn: Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, khó tổ chức đồng bộ; Liên kết giữa nông dân - hợp tác xã -  doanh nghiệp chưa chặt chẽ; Sản xuất chưa gắn với tín hiệu thị trường, đầu ra thiếu ổn định; Quy trình canh tác chưa tối ưu, chi phí cao và phát thải còn lớn. Có thể nói, vấn đề không chỉ nằm ở kỹ thuật, mà nằm ở cách tổ chức sản xuất.

1790081413039_1553437223995221298_883958741651486456_f0355746815d961944fc0b4232cff878_1790087996.jpg
Ông Đặng Cao Cường, Phó Tổng Giám đốc Sản xuất và Khoa học Công nghệ - Tập đoàn ThaiBinh Seed phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: Bùi Ánh

Từ thực tiễn đó, ThaiBinh Seed xác định một hướng đi mang tính chiến lược: Không giải quyết từng khâu riêng lẻ, mà tổ chức lại toàn bộ sản xuất theo chuỗi giá trị, lấy vùng nguyên liệu tập trung làm nền tảng. Đây chính là điểm mấu chốt giúp chuyển từ sản xuất truyền thống sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, có kiểm soát và gắn với thị trường, đồng thời tạo điều kiện để áp dụng các giải pháp kỹ thuật giảm phát thải một cách hiệu quả và đồng bộ.

Tại Diễn đàn, các đại biểu cũng chỉ ra một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai như: Điều kiện thủy lợi nội đồng và khả năng chủ động cấp, tiêu nước giữa các vùng chưa đồng đều. Kỹ thuật AWD chỉ phát huy hiệu quả khi có thể điều tiết nước theo ngưỡng kỹ thuật. Nếu phụ thuộc hoàn toàn vào lịch cấp nước chung hoặc mặt ruộng không bằng phẳng thì khó thực hiện đúng quy trình. Quy mô ruộng đất còn nhỏ, phân tán ở nhiều nơi; tổ chức sản xuất thông qua hợp tác xã chưa đồng đều. Vì vậy, việc áp dụng thống nhất lịch thời vụ, chế độ nước và quy trình kỹ thuật trên cả vùng còn gặp khó khăn.

1790085794709_2259960244202765792_2259960244202765792_61706299c619372b9266fba3dd14a6d6_1790088304.jpg
Canh tác lúa phát thải thấp - hướng đi cho tăng trưởng xanh. Ảnh: Bùi Ánh

Song song với đó, tập quán gieo sạ dày, bón phân theo kinh nghiệm, duy trì ngập nước thường xuyên và xử lý rơm rạ chưa hợp lý vẫn còn phổ biến. Việc thay đổi tập quán cần thời gian, đồng thời phải chứng minh được hiệu quả kinh tế ngay trên đồng ruộng. Mức độ cơ giới hóa giữa các khâu chưa đồng bộ. Trong khi làm đất và thu hoạch đã được cơ giới hóa khá cao thì gieo cấy, chăm sóc, quản lý nước, thu gom và xử lý rơm rạ vẫn thiếu dịch vụ phù hợp ở nhiều địa phương. Trong khi đó, liên kết sản xuất - tiêu thụ chưa bền vững. Một số mô hình có kỹ thuật tốt nhưng chưa hình thành được vùng nguyên liệu ổn định, chưa có doanh nghiệp đồng hành lâu dài nên khó duy trì sau khi kết thúc hỗ trợ.

Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho nhân rộng còn phân tán. Nếu tiếp tục hỗ trợ theo các mô hình nhỏ, trong thời gian ngắn sẽ khó tạo chuyển biến ở quy mô vùng. Trong khi đó, đầu tư hạ tầng, máy móc, dịch vụ và đào tạo cần sự tham gia của địa phương, hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân.

Bùi Ánh